Bản án 16/2019/HS-ST ngày 05/03/2019 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 16/2019/HS-ST NGÀY 05/03/2019 VỀ TỘI CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

Trong các ngày 04 và 05 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2019/HSST ngày 28 tháng 01 năm 2019 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Thành T, sinh năm 1969 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; con ông: Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ: Mai Nga M; con: có 02 người; tiền sự, tiền án: không có; bị cáo bị tạm giam từ ngày 07-8-2018 đến ngày 18-9-2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh. Ngày 30-01-2019 bị cáo bị bắt để tạm giam đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo T: Lut sư Đặng Tấn L, Công ty Luật T - Chi nhánh tỉnh Tây Ninh, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bạc Liêu, có mặt.

2/ Mai Nga M, sinh năm: 1974 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; con ông: Mai Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; chồng: Nguyễn Thành T; con: có 02 người; tiền sự, tiền án: không có; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1/ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984, có mặt

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

2/ Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1976, có mặt

Địa chỉ: ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

- Người làm chứng: Lê Thị Ngọc T, Nguyễn Văn U, Lê Thị L, Nguyễn Văn G, Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Hoàng A (tất cả vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 28-5-2018, anh Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô biển số 51F-214.45 chở vợ và con từ Huyện T, tỉnh Tây Ninh đến dừng xe trên đường nhựa trước cửa hàng tạp hóa do Nguyễn Thành T và Mai Nga M làm chủ thuộc ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh để đến Nhà thuốc K bên cạnh mua thuốc uống thì bị T chửi và hốt bùn ném vào xe của anh T không cho dừng xe. Anh T điện thoại cho chú là Nguyễn Văn S đến để xử lý vụ việc. Khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, S điều khiển xe ô tô biển số 70C-072.35 đến gặp T thì T nói “Tao chém chết mẹ mày luôn” và cầm dao kim loại dài 30cm chém trúng trán S 01 cái gây thương tích. S xông đến dùng tay đánh vào mặt của T 03 cái thì bị T tiếp tục cầm dao chém 01 cái trúng trán. T xông vào dùng tay đánh trúng mặt T 03 cái và cùng S ôm vật T ngã dưới đất. Trong lúc ôm vật nhau, T bị T cầm dao chém trúng bụng và tay trái 01 cái. Lúc này, vợ của T là Mai Nga M cầm 01 đoạn tre dài 64cm, đường kính 2cm trong Cửa hàng tạp hóa chạy ra đánh 05 cái vào đầu, vai và cổ của T thì bị T giật lấy đoạn tre và dùng tay đánh 05 cái vào mặt gây thương tích. Anh Nguyễn Văn U ở gần đó chạy đến giật lấy con dao trên tay của T vứt đi nơi khác thì T và S bỏ chạy. T chạy vào Cửa hàng tạp hóa lấy 03 con dai bằng kim loại ném về hướng của S và T nhưng không trúng. Sau đó T lấy 01 con dao bằng kim loại dài 40cm và 01 đoạn kim loại dài 27cm chạy đến chém vào xe ô tô biển số 51F-214.45 của anh T.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 125/2018/TgT ngày 02/7/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh xác định Nguyễn Văn S bị thương tích 12%.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 126/2018/TgT ngày 02/7/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh xác định Nguyễn Văn T bị thương tích 09%.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số: 208/2018/TgT ngày 11/10/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh xác định Nguyễn Văn T bị thương tích 03%.

Kết luận định giá tài sản số: 54/KL-HĐ ngày 10-7-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xác định xe ô tô biển số 70F-214.45 bị hư hỏng tài sản với giá trị là 12.000.000 đồng.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 (một) cây dao kim loại màu đen dài 40cm, cán gỗ tròn màu nâu dài 13,5cm, lưỡi dao dài 26,5cm, loại một lưỡi sắc, bề ngang lưỡi dao rộng nhất 06cm; 01 (một) cây dao kim loại màu đen dài 33cm, cán gỗ màu nâu dài 14cm, lưỡi dao dài 19cm, loại một lưỡi sắc, bề ngang lưỡi dao rộng nhất 05cm; 02 (hai) cây dao, loại cán gỗ, lưỡi kim loại sắt 01 cạnh, dài 33cm, lưỡi dao dài 20cm, rộng 6cm, dày 0,2cm; 01 (một) đoạn thanh kim loại màu đen dài 27cm cạnh vuông 02cm; 01 (một) đoạn tầm vông màu đen dài 138cm, đường kính đầu lớn 3,5cm, đầu nhỏ 3cm; 01 (một) đoạn cây tre dài 64cm, cạnh 02cm; 01 (một) đôi dép; 01 (một) đôi giày đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tạm giữ chờ xử lý.

Đi với hành vi của Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn S dùng tay đánh Nguyễn Thành T và Mai Nga M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tách ra xử lý trong vụ án khác.

Tại Cáo trạng số: 21/CT-VKSGD ngày 28-01-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; truy tố Mai Nga M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Bị hại anh T và ông S trình bày tại phiên tòa: Thương tích trên người của bị hại là do các bị cáo gây ra. Anh T và ông S đồng ý với Kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh, anh T và ông S không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm. Ông S làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời trình bày của các bị cáo, các bị hại phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và từ 03 đến 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung từ 12 đến 18 tháng tù; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo M 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 tháng. Về biện pháp tư pháp: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng vụ án là tịch thu tiêu hủy. Về bồi thường thiệt hại: đề nghị ghi nhận các bị cáo đã bồi thường, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.

Người bào chữa cho bị cáo T trình bày: Hành vi của bị cáo T theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. T có hành vi làm hư hỏng tài sản của anh T là đúng. Bị cáo T và M đã bồi thường 15.100.000 đồng. Bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và anh S có đơn bãi nại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, quyết định mức hình phạt phù hợp cho bị cáo T.

Lời nói sau cùng của bị cáo T: Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo biết hành vi phạm tội của bị cáo là sai, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo còn mẹ già.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, bị cáo có lỗi và nhận thấy lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Dầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện:

Bị cáo Nguyễn Thành T, Mai Nga M do xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật, xem nhẹ sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, nên đã dẫn các bị cáo vào con đường phạm tội.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do các bị cáo đã gây ra, cụ thể như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 28-5-2018, anh Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô biển số 51F-214.45 chở vợ và con từ Huyện T, tỉnh Tây Ninh đến dừng xe trên đường nhựa trước cửa hàng tạp hóa do Nguyễn Thành T và Mai Nga M làm chủ thuộc ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh để đến Nhà thuốc K bên cạnh mua thuốc uống thì bị T chửi và hốt bùn ném vào xe của anh T không cho dừng xe. Anh T điện thoại cho chú là Nguyễn Văn S đến để xử lý vụ việc. Khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, S điều khiển xe ô tô biển số 70C-072.35 đến gặp T thì T cầm dao kim loại dài 30cm chém trúng trán S 01 cái gây thương tích. S xông đến dùng tay đánh vào mặt của T 03 cái thì bị T tiếp tục cầm dao chém 01 cái trúng trán. T xông vào dùng tay đánh trúng mặt T 03 cái và cùng S ôm vật T ngã dưới đất. Trong lúc ôm vật nhau, T bị T cầm dao chém trúng bụng và tay trái 01 cái. Lúc này, vợ của T là Mai Nga M cầm 01 đoạn tre dài 64cm, đường kính 2cm trong Cửa hàng tạp hóa chạy ra đánh 05 cái vào đầu, vai và cổ của T thì bị T giật lấy đoạn tre và dùng tay đánh 05 cái vào mặt gây thương tích. Anh Nguyễn Văn U ở gần đó chạy đến giật lấy con dao trên tay của T vứt đi nơi khác thì T và S bỏ chạy. T chạy vào Cửa hàng tạp hóa lấy 03 con dài bằng kim loại ném về hướng của S và T nhưng không trúng. Sau đó T lấy 01 con dao bằng kim loại dài 40cm và 01 đoạn kim loại dài 27cm chạy đến chém vào xe ô tô biển số 51F-214.45 của anh T.

Hi đồng xét xử căn cứ vào lời khai của các bị cáo, các bị hại, biên bản và bản ảnh thực nghiệm hiện trường, lời khai của những người làm chứng thấy rằng lời khai của các bị cáo, bị hại là có căn cứ, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

[3] Xét về tính chất mức độ hành vi của các bị cáo:

Công cụ bị cáo T dùng để gây thương tích cho bị hại là các cây dao bằng kim loại, công cụ bị cáo M dùng để gây thương tích cho bị hại là đoạn tre dài 64cm, đường kính 02cm nên có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe cho người bị tấn công là rất lớn, thực tế thương tích của bị hại được giám định: anh T là 09% và 03%, anh S là 12%.

Bị cáo T có hành vi dùng 01 con dao bằng kim loại dài 40cm và 01 đoạn kim loại dài 27cm chạy đến chém vào xe ô tô biển số 51F-214.45 của anh T làm hư hỏng tài sản được định giá là 12.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 Điều 51, 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 03 đến 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung từ 12 đến 18 tháng tù; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo M 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội.

Hành vi của các bị cáo gây thương tích cho bị hại không những gây đau đớn về thể xác cho các bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, gây ra tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo T còn có hành vi trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, khi quyết định hình phạt cần tuyên đối với các bị cáo một mức án nghiêm mới có đủ thời gian giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

Các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự; đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại nên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo M phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị hại anh S, ông T xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T, bị cáo M nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở hành vi của các bị cáo, bị hại gây thương tích cho nhau, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo T để bị cáo nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Căn cứ vào nhân thân bị cáo M, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo M được hưởng án treo và giao bị cáo về Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú (Ủy ban nhân dân xã P) để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách là phù hợp.

Hi đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

[5] Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) cây dao kim loại màu đen dài 40cm, cán gỗ tròn màu nâu dài 13,5cm, lưỡi dao dài 26,5cm, loại một lưỡi sắt, bề ngang lưỡi dao rộng nhất 06cm; 01 (một) cây dao kim loại màu đen dài 33cm, cán gỗ màu nâu dài 14cm, lưỡi dao dài 19cm, loại một lưỡi sắt, bề ngang lưỡi dao rộng nhất 05cm; 02 (hai) cây dao, loại cán gỗ, lưỡi kim loại sắt 01 cạnh, dài 33cm, lưỡi dao dài 20cm, rộng 6cm, dày 0,2cm; 01 (một) đoạn thanh kim loại màu đen dài 27cm cạnh vuông 02cm; 01 (một) đoạn tầm vông màu đen dài 138cm, đường kính đầu lớn 3,5cm, đầu nhỏ 3cm; 01 (một) đoạn cây tre dài 64cm, cạnh 02cm; 01 (một) đôi dép; 01 (một) đôi giày là công cụ dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu tiêu hủy.

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý).

[6] Về bồi thường thiệt hại: Các bị cáo đã có hành vi trái pháp luật, có lỗi gây thiệt hại đối với anh T và anh S. Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 15.100.000 đồng và anh T không yêu cầu bồi thường gì thêm. Anh S không yêu cầu bồi thường và làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Từ những nhận định trên xét thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh là phù hợp, có cơ sơ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, bị cáo Mai Nga M phạm tội Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt 02 (hai) tội, bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30-01-2019, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 07-8-2018 đến 18-9-2018.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Mai Nga M 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Mai Nga M về Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, nơi bị cáo cư trú để quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Xử lý vật chứng:

Tch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao kim loại màu đen dài 40cm, cán gỗ tròn màu nâu dài 13,5cm, lưỡi dao dài 26,5cm, loại một lưỡi sắt, bề ngang lưỡi dao rộng nhất 06cm; 01 (một) cây dao kim loại màu đen dài 33cm, cán gỗ màu nâu dài 14cm, lưỡi dao dài 19cm, loại một lưỡi sắt, bề ngang lưỡi dao rộng nhất 05cm; 02 (hai) cây dao, loại cán gỗ, lưỡi kim loại sắt 01 cạnh, dài 33cm, lưỡi dao dài 20cm, rộng 6cm, dày 0,2cm; 01 (một) đoạn thanh kim loại màu đen dài 27cm cạnh vuông 02cm; 01 (một) đoạn tầm vông màu đen dài 138cm, đường kính đầu lớn 3,5cm, đầu nhỏ 3cm; 01 (một) đoạn cây tre dài 64cm, cạnh 02cm; 01 (một) đôi dép; 01 (một) đôi giày.

(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý).

- Bồi thường thiệt hại: Ghi nhận các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh T số tiền 15.100.000 đồng và anh T, ông S không yêu cầu bồi thường gì thêm.

4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thành T, Mai Nga M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2019/HS-ST ngày 05/03/2019 về tội cố ý làm hư hỏng tài sản

Số hiệu:16/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gò Dầu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 05/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về