Bản án 16/2018/HSST ngày 02/02/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 16/2018/HSST NGÀY 02/02/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Hôm nay ngày 02 tháng 02 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2018/TLST - HS, ngày 08 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1985

Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1962 và bà Ngô Thị S, sinh năm 1961. Vợ là Lê Thị Hiền E, sinh năm1980 (đã ly hôn); Con có 01 người sinh năm 2006.

Tiền sự: 01. Vào ngày 09/08/2016 bị Công an xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với mức phạt 3.500.000 đồng.

Tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/11/2017 (Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Bà Lê Thị Hiền E, sinh năm 1980; (Có mặt) Nơi cư trú: Ấp 5, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ngô Thị S, sinh năm 1961; (Có mặt).

Nơi cư trú: Ấp B, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

2. Em Nguyễn Thị P, sinh ngày 07/6/2006; (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp 5, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người giám hộ cho em Nguyễn Thị P là bà Lê Thị Hiền E, sinh năm 1980. (Có mặt).

Nơi cư trú: Ấp 5, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người làm chứng:

1. Ông Lê Thanh Ph, sinh năm 1982 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bà Lê Thị H, sinh năm 1978 (Có mặt); Đồng nơi cư trú: Ấp 5, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Vật chứng đưa ra xét xử tại phiên tòa: 01 cây dao có phần cán và phần lưỡi đều bằng kim loại màu đen, mũi bằng, chiều dài 31cm, có một bề lưỡi sắc bén, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 5,5cm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C và Lê Thị Hiền E, sinh năm 1980 ngụ ấp 5, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh là vợ chồng, nhưng do mâu thuẫn trong cuộc sống nên C và Hiền E không còn chung sống với nhau trên một năm. Vào ngày 13/7/2017 sau khi đã uống rượu, C đến nhà (nơi làm lò của C và Hiền E trước đây) tọa lạc ấp 5, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh tìm Hiền E nhưng chỉ gặp Nguyễn Thị P, sinh ngày 07/6/2006 là con ruột của C và Hiền E đang ở nhà, C tiếp tục đi ra ngoài tìm Hiền E. Khi về nhà lần thứ hai vẫn không gặp Hiền E, C vào nhà lấy theo một con dao có phần cán và phần lưỡi đều bằng kim loại màu đen, mũi bằng, chiều dài 31cm, có một bề sắc bén, nơi rộng nhất của lưỡi dao 5,5cm mang theo tiếp tục đi tìm Hiền E. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, C quay lại nhà lần thứ ba thì gặp Hiền E, lúc này giữa C và Hiền E xảy ra cự cải và xô xát với nhau, trong lúc xô xát, C đứng đối diện tay cầm dao gạch một đường vào vùng má trái của Hiền E gây thương tích làm Hiền E té xuống đất rồi C cầm dao bỏ đi. Sau đó, Hiền E được người nhà đưa đến trạm y tế xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long để điều trị thương tích.

Tại kết luận giám định số 100/TgT ngày 15/9/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Trà Vinh kết luận: 01 sẹo từ đuôi mày trái kéo xuống má trái, kích thước 06cm x 0,1cm, ảnh hưởng thẩm mỹ có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 11%. Do ngoại lực tác động trực tiếp. Vật gây thương tích trên là vật cứng có cạnh sắc.

Tại bản cáo trạng số: 04/QĐ/KSĐT, ngày 08 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn C hoàn toàn thống nhất với nội dung bản cáo trạng của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện C và thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 13/7/2017, tại nơi làm lò ở ấp 5, xã M, huyện C, giữa bị cáo và người bị hại tên Lê Thị Hiền E xảy ra cự cải và xô xát với nhau, trong lúc xô xát, bị cáo đứng đối diện tay cầm dao gạch một đường vào vùng má trái của Hiền E gây thương tích với tỷ lệ là 11%.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Vị đề nghị Hội đồng xét xử thực hiện theo Nghị quyết 41/QH14, ngày 20 tháng 06 năm 2017 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội, về áp dụng pháp luật theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, đối chiếu với Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 tội cố ý gây thương tích ở khoản 02 Điều 134, có khung hình phạt (từ 02 năm đến 06 năm) nhẹ hơn khung hình phạt ở khoản 02 Điều 104 (từ 02 năm đến 07 năm) Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vị đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 01 và khoản 02 Điều 51 và Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 02 (hai) năm đến03 (ba) năm tù, về tội cố ý gây thương tích. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 10 tháng 11 năm 2017. Vị đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Qua quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận. Bị cáo không có ý kiến về lời nói sau cùng mặc dù được Hội đồng xét xử cho ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Theo Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 06 năm2017 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, về áp dụng pháp luật theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, đối chiếu với Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 tội cố ý gây thương tích ở khoản 02 Điều 134, có khung hình phạt (từ 02 năm đến 06 năm) nhẹ hơn khung hình phạt ở khoản 02 Điều 104 (từ 02 năm đến 07 năm) Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận áp dụng pháp luật mà vị đại diện Viện Kiểm sát đề nghị tại phiên tòa.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan, người giám hộ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đồng thời thống nhất với bản kết luận giám định số: 100/TgT ngày 15/9/2017 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Trà Vinh. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [1]. Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biênbản nhận dạng vật chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh thu thập có được.

Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 100/TgT ngày15/9/2017 của Trung tâm pháp y– Sở y tế tỉnh Trà Vinh, người bị hại tên Lê Thị Hiền E bị tổn hại sức khỏe 11%. Mặc dù thương tích của người bị hại do bị cáo gây ra là 11%. Tuy nhiên bị cáo dùng dao gây thương tích cho bị hại nên đã phạm vào tình tiết định khung là dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là phù hợp với qui định của pháp luật, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

 [2]. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì, tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người là vốn quý của xã hội không lấy gì bù đắp được. Trong vụ án này, bị cáo với người bị hại là vợ chồng, do xuất phát từ mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng, bị cáo nghi ngờ người bị hại không còn chung thủy và bỏ bị cáo không còn sống chung với nhau trên một năm. Khi gặp nhau có lời qua, tiếng lại, bản thân trong người đã có rượu nên không kềm chế được, bị cáo đã dùng dao gạch một đường vào vùng má trái của người bị hại một vết thương từ đuôi mày trái kéo xuống má trái, kích thước 06cm x 0,1cm, gây ảnh hưởng thẩm mỹ cho người bị hại.

 [3]. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Bản thân bị cáo đã từng có tiền sự, Vào ngày 09/08/2016 bị Công an xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với mức phạt 3.500.000 đồng và có nhân thân rất xấu như: Vào ngày 23/8/2002 đánh nhau gây thương tích, công an xã H, huyện V giáo dục; Ngày 13/11/2003 đánh nhau gây thương tích bị Công an xã H, huyện V phạt hành chính 200.000đ; Ngày 17/3/2003 dùng dao chém người bị Công an xã A phạt hành chính 200.000đ và ngày 05/5/2003 uống rượu gây rối Uỷ ban nhân dân xã H, huyện V áp dụng biện pháp giáo dục tại xã 06 (sáu) tháng. Bản thân bị cáo nhận thức rằng việc dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, do tính tình nóng nãi và xem thường pháp luật nên bị cáo vi phạm pháp luật hình sự. Hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội, đã gây hoang mang, lo sợ trong đời sống của quần chúng nhân dân.

Để góp phần ổn định tình hình trật tự tại địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử, cần phải lên cho bị cáo một mức hình phạt tù nhất định tương xứng với tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn C. Hội đồng xét xử cũng cần xem xét: Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho người bị hại, hoàn cảnh gia đình có phần khó khăn, tại phiên tòa người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, đây là những căn cứ và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Do đó quan điểm của Vị đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xem xét chấp nhận.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người bị hại không đặt ra yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về vật chứng vụ án: 01 con dao bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại có phần cán và phần lưỡi đều bằng kim loại màu đen, mũi bằng, chiều dài 31cm, có một bề sắc bén, nơi rộng nhất của lưỡi dao 5,5cm, Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng: Khoản 2 Điều 134 ; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b, khoản 1Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam là ngày 10/11/2017.

- Về vật chứng vụ án: Áp Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao có phần cán và phần lưỡi đều bằng kim loại màu đen, mũi bằng, chiều dài 31cm, có một bề lưỡi sắc bén, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 5,5cm.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người bị hại bà Lê Thị Hiền E không yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người giám hộ cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày án sơ thẩm tuyên. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú.

 (Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự)./.


56
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về