Bản án 156/2019/HNGĐ-ST ngày 23/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

 BẢN ÁN 156/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

 Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 244/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2019 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

Ngun đơn: Ông Võ Hoàng V, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1975; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Võ Hoàng V trình bày, sau thời gian quen biết và tìm hiểu, ông V và bà A kết hôn vào năm 1997, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang ngày 09/10/2002. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Võ Thị Hoàng D, sinh ngày 10/8/1997. Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.

Sau thời gian 13 năm chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng không còn sống chung khoảng 06 năm nay. Từ đó đến nay, vợ chồng thỉnh thoảng có gặp mặt nhau nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông Vũ yêu cầu được ly hôn với bà A. Về con chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết do cháu D đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân. Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện gồm: bản sao trích lục kết hôn số 16, ngày 09/10/2002, bản sao trích lục khai sinh của Võ Thị Hoàng D, sinh ngày 20/8/1997 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C cấp.

Bị đơn bà Nguyễn Thị A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Ông V trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Ngoài các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, ông V không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, ông V và bà A chung sống có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa ông V, bà A hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Xét thấy, từ khi ông V gửi đơn khởi kiện, bà A biết nhưng không có ý kiến phản hồi và không tạo điều kiện cho nhau để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông V đối với bà A theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, do con chung tên Võ Thị Hoàng D, sinh ngày 10/8/1997, đã thành niên và ông V không yêu cầu nên đề nghị không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, đề nghị không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Ông Võ Hoàng V khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị A. Đồng thời, bà A cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thu c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Nguyễn Thị A đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà A theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Ông V và bà A tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa ông V, bà A là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Ông V xác định, trong quá trình chung sống, do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Cho nên, ông V yêu cầu được ly hôn với bà A.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, ông V và bà A không còn sống chung khoảng 04 năm nay. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho bà A nhưng bà A không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của ông V. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa ông V, bà A là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông V đối với bà A theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Ông V xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Võ Thị Hoàng D, sinh ngày 20/8/1997. Do cháu D đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân và ông V không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết việc nuôi dưỡng con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông V xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bà A không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu mi n giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hoàng V.

1. Về hôn nhân: Ông Võ Hoàng V được ly hôn với bà Nguyễn Thị A.

Giấy chứng nhận kết hôn số 16, ngày 09/10/2002 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho ông Võ Hoàng V và Nguyễn Thị A không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Do cháu Võ Thị Hoàng D, sinh ngày 20/8/1997 đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không đề cập giải quyết.

3. Về án phí sơ thẩm: Ông Võ Hoàng V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã n p 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền án phí số TU/2016/0012729 do Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh An Giang cấp ngày 07 tháng 3 năm 2019; ông Võ Hoàng V đã nộp đủ án phí.

Bà Nguyễn Thị A không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Võ Hoàng V có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị A được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trong hợp ản án đựợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự  người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thi hành Điều 2 thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 156/2019/HNGĐ-ST ngày 23/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:156/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 23/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về