Bản án 155/2019/HNGĐ-ST ngày 05/12/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM – TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 155/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/12/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 05 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 362/2019/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 9 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 372/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 238/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973

Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre

- Bị đơn: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1967

Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre

(Bà N có mặt, ông C vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà và ông Phạm Văn C kết hôn vào ngày 06/4/1996, hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lợi Thạnh, huyện G, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông bà đã ly thân từ tháng 02/2018 đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông C nữa, bà yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: Bà N yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Văn C, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.

- Về con chung: Bà N và ông Phạm Văn C có 2 con chung là: Phạm Thị Ngọc M, sinh ngày 28/5/2006; Phạm Văn T, sinh ngày 01/3/1992. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Phạm Thị Ngọc M và yêu cầu ông Phạm Văn C cấp dưỡng nuôi cháu M 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Đối với cháu Phạm Văn T, hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Bà N khai không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà N khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre đã hai lần triệu tập hợp lệ ông Phạm Văn C đến để tiến hành hòa giải nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện G mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có thay đổi yêu cầu khởi kiện. Theo đó, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Phạm Thị Ngọc M, không yêu cầu ông Phạm Văn C cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn ông Phạm Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn ông Phạm Văn C đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

- Bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn C và được trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Bị đơn ông Phạm Văn C hiện đang cư trú tại ấp M, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre. Do đó, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện G thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

- Bị đơn ông Phạm Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông C.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Văn C kết hôn vào năm 1992, hôn nhân do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lợi Thạnh, huyện G, tỉnh Bến Tre vào năm 1996. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị N cho rằng bà và ông Phạm Văn C bất đồng quan điểm sống, ông bà đã ly thân từ tháng 02/2018 đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông C nữa nên xin được ly hôn. Về phía ông C, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông C tham gia phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông C đã không đến Tòa án và cũng không có gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà N. Qua đó, cho thấy tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn; ông C có thái độ bỏ mặc, không hề có ý mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà N.

Đng thời, tại biên bản xác minh ngày 06/11/2019 thể hiện, theo chính quyền địa phương nắm được thì giữa bà N và ông C có xảy ra mâu thuẫn lục đục. Mâu thuẫn bắt đầu phát sinh kể từ khi vợ chồng chuyển từ làm thuê sang buôn bán vé số. Nguyên nhân là do bà N thường xuyên vắng nhà, công việc buôn bán vé số thường tiếp xúc nhiều người nên đôi khi vợ chồng xảy ra ghen tuông bất hòa. Khoảng 1 năm trở lại đây thì vợ chồng bà N, ông C không còn chung sống với nhau, ông C đi làm phụ hồ, còn bà N đi nơi khác bán vé số, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm lẫn nhau.

Nhận thấy, mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Văn C là có thật và cả hai không tìm cách tháo gỡ được làm cho hôn nhân giữa hai bên lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Văn C có 2 con chung là: Phạm Thị Ngọc M, sinh ngày 28/5/2006; Phạm Văn T, sinh ngày 01/3/1992. Bà N yêu cầu sau khi ly hôn bà được trực tiếp nuôi cháu Phạm Thị Ngọc M, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Phạm Văn T, hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét thấy, hiện tại tuy cháu Phạm Thị Ngọc M đang sống chung với ông C nhưng mọi chi phí học tập, sinh hoạt đều do bà N chu cấp. Tại biên bản hỏi ý kiến ngày 15/10/2019, cháu M có nguyện vọng nếu cha mẹ ly hôn thì cháu mong muốn được sống chung với mẹ vì mẹ lo cho cháu ăn học đầy đủ. Đồng thời, phía ông C cũng không có ý kiến gì về vấn đề con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận để bà Nguyễn Thị N là người trực tiếp nuôi cháu Phạm Thị Ngọc M. Xét việc bà N không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đi với cháu Phạm Văn T nhận thấy, hiện nay cháu T đã trưởng thành, có thể tự lo cho bản thân, bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung: Bà N khai không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Bà N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị N phải chịu theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N đối với bị đơn ông Phạm Văn C, cụ thể tuyên:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Phạm Văn C.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị N được trực tiếp nuôi con chung là Phạm Thị Ngọc M, sinh ngày 28/5/2006, ghi nhận việc bà N không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Phạm Văn T, sinh ngày 01/3/1992 hiện đã trưởng thành, bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, ông Phạm Văn C được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích về mọi mặt của con chung, khi cần thiết các bên đương sự được quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà N khai không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Bà N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Thị N phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0007318 ngày 25 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre. Bà N đã nộp xong tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đối với ông Phạm Văn C vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

91
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 155/2019/HNGĐ-ST ngày 05/12/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:155/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Trôm - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 05/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về