Bản án 155/2017/HNGĐ-ST ngày 01/09/2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình và xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 155/2017/HNGĐ-ST NGÀY 01/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VÀ XIN LY HÔN

Ngày 01 tháng 9 năm 2017, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Long  Mỹ,  tỉnh  Hậu Giang  xét  xử  sơ  thẩm  công  khai  vụ  án  thụ  lý  số: 82/2017/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân và gia  đình  –  xin  ly  hôn  theo  Quyết  định  đưa  vụ  án ra xét  xử  số 59/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2017/QĐST-HNGĐ ngày 17  tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1991.

Địa chỉ: Ấp 1, xã X P, huyện M, tỉnh Hậu Giang; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: Ấp 2, xã X P, huyện M, tỉnh Hậu Giang;, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phan Văn T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã xã X P, huyện M, tỉnh Hậu Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/01/2010.

Nguyên nhân mâu thuẩn: Chị và anh T sống chung hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, hai bên không tìm được sự đồng cảm trong cuộc sống vợ chồng mặc dù tìm cách nhiều lần hàn gắn và động viên nhau. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn dẫn đến cuộc sống chung không còn hạnh phúc, chị và anh T đã ly thân từ năm 2012 đến nay nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Phan Văn T.

Về con chung: Chị Ngọc H và anh T có 01 con chung tên Phan Nguyễn H T (giới tính; Nữ) sinh ngày 12/10/2010, hiện đang sống chung với chị Ngọc H, khi ly hôn chị Ngọc H yêu cầu được nuôi cháu H T chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình tiến hành tố tụng, từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn Phan Văn T để tiến hành phiên họp, phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi được lời khai của bị đơn cũng như bị đơn không thể hiện ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Ngọc H đối với anh Phan Văn T. Tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu nên không xem xét. Về con chung đề nghị

Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Phan Nguyễn H T (giới tính; Nữ) sinh ngày 12/10/2010 cho chị Ngọc H tiếp tục nuôi dưỡng, chị Ngọc H chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Phan Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng cố tình vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn Phan Văn T.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án  Tranh chấp hôn nhân và gia đình – xin ly hôn”, căn cứ theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc H và anh Phan Văn T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc có con chung, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẩn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hay cãi vã nhau, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị H và anh T đã ly thân từ năm 2012 đến nay và tại biên bản xác minh của Tòa án tại nơi cư trú của vợ chồng chị Nguyễn Ngọc H cũng đã thể hiện điều này. Tại phiên tòa, chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T và kiên quyết yêu cầu Tòa án cho được ly hôn với anh T. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã thực sự trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nhận thấy, việc chị Nguyễn Ngọc H yêu cầu được ly hôn với anh Phan Văn T là hoàn toàn có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị Ngọc H và anh T có 01 con chung tên Phan Nguyễn H T (giới tính; Nữ) sinh ngày 12/10/2010. Trong thời gian ly thân chị H trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu H T chu đáo và cháu H T cũng có nguyện vọng muốn sống với mẹ nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Phan Nguyễn H T (nữ) sinh ngày 10/12/2010 cho chị H nuôi dưỡng. Đối với anh Phan Văn T là người không trực tiếp nuôi dưỡng cháu H T nên có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Ngọc H chưa yêu cầu anh Phan Văn T cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.

[6] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Ngọc H xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

[7] Về nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc H xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

[8] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của   Bộ   luật   Tố  tụng   dân   sự   và  khoản   5   Điều   27   Nghị   quyết   số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Ngọc H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9; Điều 51; Điều 53, Điều 56; Điều 81; Điều  82;  Điều  83  Luật  hôn  nhân và  gia  đình  năm  2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2]Tuyên xử:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc H được ly hôn với anh Phan Văn T.

[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Ngọc H được tiếp tục nuôi con chung tên Phan Nguyễn H T (giới tính; Nữ) sinh ngày 12/10/2010.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Ngọc H chưa yêu cầu anh Phan Văn T cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét.[2.4] Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Phan Văn T không ai được quyền cản trở.

[2.5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Ngọc H trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[2.6] Về nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc H trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được chuyển từ tạm ứng án phí sang án phí theo biên lai thu số 0011856 phiếu lập ngày 09/5/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn Phan Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi bị đơn cư trú.


179
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 155/2017/HNGĐ-ST ngày 01/09/2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình và xin ly hôn

Số hiệu:155/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Long Mỹ - Hậu Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:01/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về