Bản án 152/2020/HNGĐ-ST ngày 21/08/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 152/2020/HNGĐ-ST NGÀY 21/08/2020 VỀ LY HÔN 

Ngày 21 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 382/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2020/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 135/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; địa chỉ: Thôn Vối, xã Q, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn N; địa chỉ: địa chỉ: Thôn Vối, xã Q, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 05/5/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị H (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Đoàn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 13/9/2001. Quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong công việc, sinh hoạt và nuôi dạy con vợ chồng không thống nhất dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn, vợ chồng chị hiện đã sống ly thân nhau. Nay, chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đoàn Văn N.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H khai: Chị và anh Đoàn Văn N có 02 con là Đoàn Văn T, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1997 và Đoàn Thị L, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2000. Hiện cả hai con đều đã thành niên và có khả năng lao động nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H khai: Chị H và anh Đoàn Văn N có tài sản chung hai ben tự thỏa thuận phân chia nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 12 tháng 11 năm 2019 và lời trình khai trong quá trình giải quyết vụ án,anh Đoàn Văn N (bị đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Anh Đoàn Văn N xác nhận lời khai của chị H về thời gian, điều kiện, hình thức kết hôn, nguyên nhân và tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của anh N yêu cầu Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Trường hợp chị H vẫn kiên quyết ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Về con chung: Anh Đoàn Văn N khai anh và chị Nguyễn Thị H có có 02 con là Đoàn Văn T, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1997 và Đoàn Thị L, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2000. Hiện cả hai con đều đã thành niên và có khả năng lao động nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Đoàn Văn N khai: Anh và chị H khôngcó tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh N. Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu điều tra thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đoàn Văn N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị H và anh N được ly hôn. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đoàn Văn N có có 02 con là Đoàn Văn T, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1997 và Đoàn Thị L, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2000. Hiện cả hai con đều đã thành niên và có khả năng lao động, chị H, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Về nghĩa vụ nộp án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Đoàn Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Đoàn Văn N.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đoàn Văn N được xác lập vào năm 2001 là hợp pháp. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện: Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong lao động và nuôi dạy con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn nên chị H và anh N hiện đã sống ly thân nhau. Chị H xin ly hôn anh N, Tòa án đã triệu tập anh N đến phiên tòa nhiều lần để trình bày ý kiến về việc chị H xin ly hôn nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho chị H và anh N được ly hôn.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đoàn Văn N có có 02 con là Đoàn Văn T, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1997 và Đoàn Thị L, sinh ngày 03 tháng 5 năm 2000. Hiện cả hai con đều đã thành niên và có khả năng lao động, chị H, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Đoàn Văn N thống nhất khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh Đoàn Văn N được quyền kháng cáo trong thời hạn do pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đoàn Văn N.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000984 ngày 05 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị H và anh Đoàn Văn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 152/2020/HNGĐ-ST ngày 21/08/2020 về ly hôn

Số hiệu:152/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:21/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về