Bản án 152/2019/HNGĐ-ST ngày 27/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 152/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/11/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 295/2019/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 8 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Trịnh Minh T, sinh năm 1980 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 23/8/2019, các văn bản khác kèm theo chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2016, chị và anh Trịnh Minh T kết hôn, đến nay không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, do không hợp nhau, bất đồng về quan điểm, thường hay cự cải, anh chị đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Chị xét thấy không thể hòa giải đoàn tụ do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn anh Trịnh Minh T.

Về con chung: Chị và anh Trịnh Minh T có một người con chung tên là Trịnh Thiên K (giới tính nữ), sinh ngày 02/3/2018, hiện con đang sống cùng chị, nay chị yêu cầu giao con cho chị tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 25 tháng 11 năm 2019, chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt chị, do chị bận công việc nên không tham gia phiên tòa sơ thẩm.

Anh Trịnh Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng vụ án, nhưng đều vắng mặt không lý do, không cung cấp lời khai và chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Chị Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn anh Trịnh Minh T và yêu cầu nuôi con là quan hệ “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Chị Nguyễn Thị H đã có đơn xin vắng mặt không tham gia phiên tòa, và anh Trịnh Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Minh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Minh T kết hôn năm 2016, đến nay không có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nên đã vi phạm về thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Minh T là hôn nhân không hợp pháp. Nay xét không công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Minh T là vợ chồng là có căn cứ theo khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H yêu cầu nuôi con là Trịnh Thiên K sinh ngày 02 tháng 3 năm 2018, anh Trịnh Minh T không có ý kiến phản đối và không yêu cầu gì. Do con chung hiện nay dưới 36 tháng tuổi nên xét giao cho chị H trực tiếp nuôi là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Áp dụng Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Minh T là vợ chồng.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao Trịnh Thiên K (giới tính nữ), sinh ngày 02/3/2018 cho chị Nguyễn Thị H chịu trách nhiệm tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận tự nguyện của chị Nguyễn Thị H về việc không yêu cầu anh Trịnh Minh T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trịnh Minh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng, chị Nguyễn Thị H đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0019418 ngày 26/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay đối trừ và chuyển thu.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 152/2019/HNGĐ-ST ngày 27/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:152/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 27/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về