Bản án 152/2019/HNGĐ-ST ngày 03/04/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 152/2019/HNGĐ-ST NGÀY 03/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 03 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 592/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXX-ST ngày 27/02/2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Quế A – sinh năm: 1982; Địa chỉ: 37/16 khu vực 5, đư ng C, phư ng D, quận H, thành phố Cần Thơ.

* Bị đơn : Phạm Thị Ngọc B - sinh năm: 1987; Địa chỉ: ấp L, xã M, huyện N, tỉnh Tiền Giang.

(Anh A có mặt, chị B vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn và bản tự khai ngày 04/12/2018, nguyên đơn anh Nguyễn Quế A trình bày:

Anh và chị Phạm Thị Ngọc B cưới nhau vào năm 2018, do hai bên tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, quận H, thành phố Cần Thơ vào ngày 01/3/2018. Cuộc sống chung của vợ chồng anh rất hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị B không chịu về bên gia đình anh sinh sống, mặc dù anh A đã nhiều lần xuống rước chị B. Vợ chồng anh đã ly tB từ tháng 06/2018. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nB không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị B.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Phạm Thị Ngọc B vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ và chị B không có ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của anh A.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa. Về nội dung xét thấy việc mâu thuẫn giữa anh A và chị B là có thật, thời gian ly thân đã kéo dài, Tòa án đã triệu tập chị B nhiều lần nhưng chị B đều vắng mặt, qua đó cho thấy chị B không muốn hàn gắng tình cảm với anh A nên yêu cầu của anh A là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Anh Nguyễn Quế A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Phạm Thị Ngọc B, do đó Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Chị Phạm Thị Ngọc B mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do, do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị B.

[3] Đối với yêu cầu xin ly hôn của anh A, Tòa xét thấy: Tại phiên tòa anh A trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do B không đồng ý về bên gia đình anh A sinh sống nên anh chị đã ly tB từ tháng 06/2018 cho đến nay. Tòa án đã triệu tập chị B nhiều lần nhằm tạo điều kiện cho anh chị hàn gắng mối quan hệ vợ chồng nhưng chị B vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn của anh A, qua đó cho thấy chị B không có thành ý cứu vãn mối quan hệ hôn nhân với anh A. Do đó, Tòa án xét thấy mâu thuẫn giữa anh chị là trầm trọng không thể hàn gắng được, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của anh A, cho anh A được ly hôn với chị B.

[4] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Tòa án chấp nhận.

[5] Về án phí: Anh A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Quế A. Anh Nguyễn Quế A được ly hôn với chị Phạm Thị Ngọc B.

2. Án phí: Anh Nguyễn Quế A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Anh A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0015375 ngày 04/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, như vậy anh A đã thi hành xong.

3. Anh A có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với chị B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thơi hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 152/2019/HNGĐ-ST ngày 03/04/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:152/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phú Đông - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:03/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về