Bản án 152/2018/HNGĐ-ST ngày 26/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 152/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/11/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 149/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Mỹ T, sinh năm 1997; có mặt. Địa chỉ: Đội 16, thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Bị đơn: Anh Lê Hoàng H, sinh năm 1990; vắng mặt.

Địa chỉ: Đội 3, thôn H, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hồ Thị Mỹ T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Hoàng H tự nguyện tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 11/10/2017 tại UBND xã T, huyện S. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối tháng 02/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do mang thai nên chị không đi làm được, anh H thường xuyên gây sự và chửi bới, mặc dù chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh không thay đổi, mà còn đánh chị. Giữa tháng 5/2018 trong thời gian chị ở cử, anh H không chăm sóc chị mà còn nhiều lần quậy phá ở nhà chị, gây gổ đánh chị và mẹ chị, ảnh hưởng đến tâm sinh lý của chị.

Nay chị xét thấy cuộc hôn nhân này không thể kéo dài, tình cảm hai vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Hoàng H.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Lê Hoàng Phương N, sinh ngày 05/5/2018. Hiện cháu N ở với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu N, chị yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ của ai, không cho ai vay mượn.

Bị đơn: Anh Lê Hoàng H vắng mặt, nhưng tại bản tự khai ngày 04/10/2018, biên bản hòa giải ngày 08/10/2018 anh Lê Hoàng H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hồ Thị Mỹ T tự nguyện tìm hiểu nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 11/10/2017 tại UBND xã T, huyện S. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hiểu nhau nên dẫn đến xô xát, cãi vã.

Nay tình cảm giữa hai vợ chồng vẫn còn, chị Hồ Thị Mỹ T muốn ly hôn với anh thì anh không đồng ý ly hôn với chị Hồ Thị Mỹ T.

Về con chung: Có 01 người con chung tên Lê Hoàng Phương N, sinh ngày 05/5/2018. Hiện cháu ở với chị T, vì không đồng ý ly hôn nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai, không cho ai vay mượn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, HĐXX, người tham gia tố tụng từ khi thụ lý cho đến khi HĐXX vào nghị án và phát biểu về việc giải quyết vụ án: Việc Thẩm phán, Thư ký, HĐXX đã tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Các đương sự: Nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành theo triệu tập của Tòa án.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật: Căn cứ vào Điều 28; 147 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 51; 53; 56; 81; 82; 83; 84, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị T và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T ly hôn với anh H. Về con chung: Giao cháu N cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh H phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con hàng tháng theo qui định của pháp luật. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Vợ chồng không nợ ai, không cho ai vay mượn, nên không xem xét. Chị T và anh H phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tiến hành hòa giải, nhưng hòa giải không thành nên đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa ngày 16/11/2018 anh H vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử lại vào ngày 26/11/2018, tại phiên tòa hôm nay anh H vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh H là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

 [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Mỹ T và anh Lê Hoàng H kết hôn là tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S vào ngày 11/10/2017. Anh H và chị T là vợ chồng hợp pháp. Trong quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do trong thời gian chị T mang thai và sinh con, anh H không hiểu tâm lý của người vợ cần sự quan tâm chăm sóc của người chồng mà anh còn dùng lời lẽ xúc phạm, đanh đập chị T. Tuy anh H có nguyện vọng đoàn tụ gia đình, nhưng khi Tòa án báo hòa giải lần hai anh H vắng mặt không có lý do, tại phiên tòa anh H cũng vắng mặt không có lý do. Như vậy anh H không thực sự thiện chí để gia đình đoàn tụ. Xét thấy: Mâu thuẫn giữa anh H và chị T đã đến mức lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T ly hôn anh H là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

 [3] Về con chung: Chị T và anh H có 01 người con chung: Lê Hoàng Phương N, sinh ngày 05/5/2018. Hiện cháu N đang ở với chị T.

Xét thấy: Cháu N mới được hơn 6 tháng tuổi, cần sự chăm sóc của người mẹ, vì vậy chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu N cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh H phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.200.000,đồng, (Một triệu hai trăm ngàn đồng) kể từ tháng 12 năm 2018 là phù hợp theo quy định tại Điều 81; Điều 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình

 [4] Về tài sản chung: Vợ chồng khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vợ chồng không nợ ai, không cho ai vay mượn, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [5] Án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị T phải chịu tiền án phí ly hôn, anh H phải chịu tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

 [6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

 [7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28; 147; 227; 228; 235; 266; 271 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83; 84; 110; 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Mỹ T. Chị Hồ Thị Mỹ T được ly hôn anh Lê Hoàng H.

+ Về con chung: Chị T và anh H có 01 người con chung: Lê Hoàng Phương N, sinh ngày 05/5/2018.

Giao cháu N cho chị T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Lê Hoàng H phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con hàng tháng, mỗi tháng 1.200.000,đồng, (Một triệu hai trăm ngàn đồng) kể từ tháng 12 năm 2018 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

+ Về án phí: Chị Hồ Thị Mỹ T phải chịu 300.000,đồng tiền án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000,đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0002980 ngày 04/10/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sơn Tịnh. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Anh Lê Hoàng H phải chịu 300.000,đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không chịu thi hành thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

+ Kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 152/2018/HNGĐ-ST ngày 26/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:152/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sơn Tịnh - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về