Bản án 15/2019/HS-ST ngày 20/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

BẢN ÁN 15/2019/HS-ST NGÀY 20/02/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20/02/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2019/TLST- HS ngày 31/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST- HS ngày 01/02/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên Bùi Văn T, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ở và ĐKNKTT: Thôn Đ, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 23/12/2018, chuyển tạm giam ngày 25/12/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình (Bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Phố P, thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt - có đơn xin xử vắng mặt).

Người làm chứng:

- Anh Trần Văn D.

- Chị Lương Thị T.

- Bà Bùi Thị H.

(Anh D, chị T, bà H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Văn T là người nghiện ma túy. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/12/2018, Bùi Văn T đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết từ nhà đến xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi Bùi Văn T đến khu vực cổng chợ Y thì T xuống xe đi bộ và gặp một người nam giới (T không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở bên đường, T đến gần người nam giới và hỏi “Anh có hàng không để cho em một quả hai trăm” - Ý T hỏi mua Heroine của người nam giới với giá 200.000 đồng, người nam giới đồng ý và nói “Có, đưa tiền đây”. Bùi Văn T lấy 200.000 đồng đưa cho người nam giới, người nam giới cầm tiền rồi đưa lại cho T 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng. Bùi Văn T mở ra kiểm tra thì thấy đúng là Heroine nên T gói lại và cầm trên tay trái rồi đi nhờ xe của một người không quen biết về khu vực ngã ba A, xã Q, huyện N. Khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, khi Bùi Văn T đến khu vực ngã ba A thì T xuống xe và cầm gói Heroine trên tay trái đi bộ dọc theo đường Quốc lộ

12C thuộc địa phận thôn A, xã Q, huyện N tìm nơi sử dụng. Lúc này Bùi Văn T gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã Q đang tiến hành nhiệm vụ tuần tra đi đến. Do sợ bị phát hiện cất giấu Heroine trên người nên Bùi Văn T đã ném gói Heroine từ trên tay trái xuống mặt đường chỗ T đang đứng thì bị Tổ công tác phát hiện bắt quả tang, yêu cầu T nhặt lên kiểm tra thì thấy bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, Bùi Văn T khai nhận đó là gói Heroine của T vừa mua về nhằm mục đích sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong có chất bột dạng cục màu trắng của Bùi Văn T. Ngoài ra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì khác (BL 34-37, 104-111).

Cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng thu giữ của Bùi Văn T có khối lượng 0,16 gam ký hiệu M để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 63/KLGĐ-PC09-MT ngày 25/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,1583 (không phẩy một nghìn năm trăm tám mươi ba) gam là ma túy, loại Heroine.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên; Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSNQ-HS ngày 30/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Bùi Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/12/2018.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị:

- Tịch thu để tiêu hủy 0,1053 (không phẩy một nghìn không trăm năm mươi ba) gam Heroine còn lại Cơ quan điều tra thu giữ của Bùi Văn T và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 63/KLGĐ-PC09-MT; 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.

Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố cụ thể như sau: Bị cáo là người nghiện ma túy nên để có ma túy sử dụng cho bản thân, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/12/2018, tại khu vực cổng chợ Y thuộc xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình bị cáo mua của một người nam giới không quen biết 01 gói Heroine có khối lượng 0,1583 (không phẩy một nghìn năm trăm tám mươi ba) gam, là ma túy, loại Heroine được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000đ. Đến khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày, khi Bùi Văn T đang cầm gói Heroine trên tay trái đi bộ dọc theo đường Quốc lộ 12C thuộc địa phận thôn A, xã Q, huyện N tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã Q đang làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện và bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định số 63/KLGĐ-PC09-MT ngày 25/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đã đủ cơ sở pháp lý khẳng định bị cáo tàng trữ 0,1583 gam Heroine nhằm mục sử dụng. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy:

Hành vi tàng trữ 0,1583 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Xét bản thân bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi mua ma túy của mình bị Nhà nước cấm. Bị cáo nhận thức được nghiện ma túy là tệ nạn xã hội nguy hiểm mà cộng đồng đang ra sức lên án và loại trừ bởi ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến kinh tế, sự phát triển nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất hiện nay, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội như: Lừa đảo, trộm cắp… Nhận thức được hành vi mua ma túy bị pháp luật cấm và tác hại to lớn của ma túy như vậy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Điều đó chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc, áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, mới có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung đồng thời giúp bị cáo có thời gian cải tạo rèn luyện mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Quá trình Tổ công tác Công an huyện N bắt giữ Bùi Văn T thì Bùi Văn T đã có hành vi cắn vào ngón tay của đồng chí Nguyễn Văn H là cán bộ Công an huyện N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích đối với đồng chí H nhưng do vết thương nhẹ, đồng chí H không đi điều trị nên đã có đơn xin từ chối giám định và đồng chí H cũng không yêu cầu Bùi Văn T phải bồi thường. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, kết quả điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán Heroine cho bị cáo nên không có căn cứ để xử lý.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy tàng trữ nhằm sử dụng không nhằm mục đích kiếm lời. Mặt khác, bị cáo không có tài sản gì. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,1053 (không phẩy một nghìn không trăm năm mươi ba) gam Heroine còn lại Cơ quan điều tra thu giữ của Bùi Văn T và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 63/KLGĐ- PC09-MT thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với 01 phong bì thư niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ gói và phong bì niêm phong ban đầu không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/12/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu để tiêu hủy 0,1053 (không phẩy một nghìn không trăm năm mươi ba) gam Heroine còn lại Cơ quan điều tra thu giữ của Bùi Văn T và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 63/KLGĐ-PC09-MT.

- Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên trong là vỏ gói và phong bì niêm phong ban đầu.

(Chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/02/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2019/HS-ST ngày 20/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:15/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về