Bản án 15/2019/HNGĐ-ST ngày 24/05/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 15/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 24 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2019/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Lý T, sinh năm 1993;

Nơi đăng ký HKTT: tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình;

Nơi ở hiện nay: tổ dân phố D, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

2. Bị đơn: anh Lê Văn N, sinh năm 1986;

Nơi cư trú: tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 05 tháng 4 năm 2019 và bản tự khai, tại các phiên hoà giải, nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Lý T trình bày:

Chị và anh Lê Văn N có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vào ngày 06 tháng 02 năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do điều kiện gia đình khó khăn nên năm 2017 anh chị phải đi làm ăn tại Đài Loan, đến năm 2018 thì anh N bỏ về và yêu cầu chị về nhà theo nhưng chị không đồng ý, vì trước khi đi Đài Loan, mẹ chị đã vay tiền cho hai vợ chồng đi đến nay chưa có tiền trả nợ, chị đành phải ở lại để làm ăn trả hết số nợ mà mẹ chị vay cho hai vợ chồng. Vì vậy, anh N không vừa lòng và vợ chồng sống ly thân, không quan tâm, liên lạc gì với nhau kể từ tháng 12 năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian về nước anh N cũng không quan tâm, không có trách nhiệm gì đến con. Nay chị về Việt Nam và nhận thấy không còn tình cảm gì với anh N nên có nguyện vọng mong muốn được ly hôn với anh N để sớm ổn định cuộc sống của bản thân.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh N có 01 con chung là Lê Anh Đ, sinh ngày 17 tháng 6 năm 2015. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và yêu cầu anh N cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không nợ gì của ai cũng không ai nợ vợ chồng. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Văn N trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Lý T có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn vào ngày 06 tháng 02 năm 2015 tại Uỷ ban nhân dân phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không còn chung quan điểm, mỗi người một hướng. Nay chị T làm đơn xin ly hôn, thì anh cũng đồng ý ly hôn.

Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung như chị T đã trình bày. Nếu vợ chồng ly hôn thì anh có nguyện vọng xin được nuôi con và không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không nợ gì của ai cũng không ai nợ vợ chồng. Vì vậy, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Lý T có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Văn N. Hiện tại anh N đang có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố Đ, phường Quảng P, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền  giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B.

- Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên toà vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lý T. Xét thấy, chị T có đơn đề nghị Toà án xử vắng mặt. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Lý T.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Lý T và anh Lê Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống hạnh phúc được 02 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng không còn chung quan điểm sống nên hôn nhân giữa vợ chồng đổ vỡ. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2018 cho đến nay và cũng không quan tâm gì đến nhau nên tình cảm không còn. Quá trình giải quyết vụ án, chị Tình kiên quyết xin được ly hôn với anh N.

Xét thấy, chị T và anh N đã sống ly thân hơn 02 năm nay, không ai quan tâm đến ai, tình cảm không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, đồng thời căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho chị T được ly hôn với anh N là phù hợp.

[3] Về quan hệ con chung:

Quá trình chung sống chị T và anh N có 01 con chung như anh chị đã trình bày. Nếu ly hôn hai bên đương sự đều có nguyện vọng xin được nuôi con, chị T yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật, còn anh N không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ lúc vợ chồng sống ly thân đến nay, cháu Lê Anh Đ đều ở cùng với mẹ và bà ngoại, hiện nay đã ổn định cuộc sống và sinh hoạt, thời gian vợ chồng sống ly thân anh N không có trách nhiệm gì tới con, hiện tại anh N chưa có nghề nghiệp và thu nhập gì. Vì vậy, yêu cầu xin được nuôi con của anh N không được chấp nhận mà cần căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, buộc anh N cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng là phù hợp.

[4] Về quan hệ tài sản chung:

Quá trình giải quyết vụ án, chị T, anh N trình bày không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí:

Chị T, anh N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lý T

2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Lý T, xử cho chị Nguyễn Thị Lý T được ly hôn với anh Lê Văn N.

3. Về quan hệ con chung: Xử giao con chung là Lê Anh Đ, sinh ngày 17 tháng 6 năm 2015 cho chị Nguyễn Thị Lý T được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Buộc anh N cấp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng, kể thừ tháng 7 năm 2019 cho đến khi con trưởng thành, có khả năng tự nuôi sống bản thân.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về quan hệ tài sản chung: Không xem xét.

5. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Lý T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị đã nộp trước đây tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002335 ngày 03 tháng 4 năm 2019. Chị T đã nộp đủ tiền án phí. Anh N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ để sung vào công quỹ nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, đương sự cómặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2019/HNGĐ-ST ngày 24/05/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:15/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ba Đồn - Quảng Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về