Bản án 15/2019/HNGĐ-ST ngày 17/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 15/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/05/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 17 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 510/2018/TLST-HNGĐ ngày 18/12/2018 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 286/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị D; nơi cư trú: Số Z đường P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Ngô Duy K; nơi cư trú: Số Z đường P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 23/8/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị D trình bày:

Chị và anh Ngô Duy K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, có tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng vào ngày 21/01/2008.

Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc đến năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, lối sống, vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình, địa phương hòa giải xong không có kết quả. Trong hai năm 2017 và năm 2018, chị D đã nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhưng cả hai lần được Tòa án động viên hòa giải vợ chồng về đoàn tụ. Vì vậy chị D đã có đơn xin rút đơn ly hôn và Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền đã hai lần ra Quyết định đình chỉ vụ án. Xong tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2018 đến nay không liên quan nhau về tình cảm cũng như kinh tế. Chị D đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K để chị được ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh K có 02 con chung là Ngô Duy Toàn, sinh ngày 09/6/2009 và Ngô Khánh Linh, sinh ngày 18/01/2012. Nếu được ly hôn chị D có nguyện vọng được nuôi con Ngô Khánh Linh và giao con Ngô Duy Toàn cho anh K nuôi. Về nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chị D và anh K tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh K không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Ngô Duy K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tại phiên tòa ngày 17/5/2019 anh K có mặt và trình bày:

Anh và chị D lấy nhau năm 2007 và có làm thủ tục đăng ký kết hôn như chị D đã trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc và có 02 con chung. Trong cuộc sống vợ chồng có sự bất đồng quan điểm sống và lối sống nên vợ chồng có xảy ra xô sát. Bản thân anh K xác định có lỗi với vợ mong vợ tha thứ và rút đơn ly hôn để vợ chồng về đoàn tụ. Nếu chị D cương quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh và chị D có 02 con chung là Ngô Duy Toàn, sinh ngày 09/6/2009 và Ngô Khánh Linh, sinh ngày 18/01/2012. Nếu ly hôn anh K có nguyện nuôi con Ngô Duy Toàn và giao con Ngô Khánh Linh cho chị D nuôi. Về nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con anh K và chị D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh và chị D không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ về cuộc sống hôn nhân của chị D và anh K tại chính quyền địa phương cũng như lời khai của người thân trong gia đình chị D và anh K. Các lời khai đều thể hiện mâu thuẫn của anh chị là trầm trọng, thường xuyên đánh, cãi, chửi nhau; vợ chồng chị D và anh K không thể ở được với nhau.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu: Qua nghiên cứu hồ sơ thấy rằng việc thụ lý vụ án cũng như quá trình xây dựng lập hồ sơ và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các đương sự: Phía nguyên đơn thực hiện đúng quy định pháp luật, bị đơn đã triệu tập nhiều lần không đến, không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh K đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D được ly hôn với anh K; về con chung: Đề nghị giao con Ngô Duy Toàn, sinh ngày 09/6/2009 cho anh K nuôi; giao con Ngô Khánh Linh, sinh ngày 18/01/2012 cho chị D nuôi. Về nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chị D và anh K không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết; về tài sản chung: Chị D và anh K không có tài sản chung, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Chị Vũ Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:

- Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Ngô Duy K cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thời hạn giải quyết vụ án: Vụ án thụ lý ngày 18/12/2018 đến ngày 11/4/2019 có quyết định đưa vụ án ra xét xử là đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân:

[3] Chị Vũ Thị D và anh Ngô Duy K lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải phòng ngày 21/01/2008 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Sau khi chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2012 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, lối sống, anh K thường xuyên đánh đập, chửi bới chị D. Chị D đã hai lần nộp đơn lên Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền vào năm 2017, 2018. Sau khi được Tòa án hòa giải chị rút đơn xin ly hôn nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Tại phiên tòa quan điểm của anh K xin vợ chồng về đoàn tụ, xong chị D cương quyết xin ly hôn thì anh K cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống chung của chị D và anh K không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần giải quyết cho chị D được ly hôn với anh K là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D đối với anh K.

+ Về con chung:

[5] Chị Vũ Thị D và anh Ngô Duy K có 02 con chung là Ngô Duy Toàn, sinh ngày 09/6/2009 và Ngô Khánh Linh, sinh ngày 18/01/2012. Chị D và anh K thỏa thuận: Giao con lớn Ngô Duy Toàn cho anh K nuôi; giao con nhỏ Ngô Khánh Linh cho chị D nuôi. Về Nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chị D và anh K tự thỏa thuận không yêu. Xét sự thỏa thuận của chị D và anh K hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận về sự thỏa thuận về con chung giữa chị D và anh K.

+ Về tài sản chung:

[6] Chị Vũ Thị D và anh Ngô Duy K không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

+ Về án phí:

[7] Chị Vũ Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D được ly hôn với anh Ngô Duy K.

2. Về con chung: Giao con Ngô Duy Toàn, sinh ngày 09/6/2009 cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Ngô Khánh Linh, sinh ngày 18/01/2012 cho chị D trực tiếp nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, chị D và anh K tự thỏa thuận không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Vũ Thị D và anh Ngô Duy K không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Vũ Thị D phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng chị D đã nộp tại Chi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải phòng theo biên lai số 0015525 ngày 18/12/2018. Chị Vũ Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vũ Thị D và bị đơn anh Ngô Duy K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2019/HNGĐ-ST ngày 17/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:15/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về