Bản án 15/2019/HNGĐ-ST ngày 06/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 15/2019/HNGĐ-ST NGÀY 06/05/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 06 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2019/TLST HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 10/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/4/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Thị Phương A, sinh năm 1986. (có mặt)

Địa chỉ: Số 107A/106A ấp Khu 2, xã Thạnh P, huyện Mỹ X, tỉnh Sóc T.

- Bị đơn: Ông Lâm S, sinh năm 1983. (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 99A ấp Khu 2, xã Thạnh P, huyện Mỹ X, tỉnh Sóc T.

- Con chung trên 07 tuổi: Cháu Lâm Hoàng Â, sinh ngày 07/4/2008 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số 107A/106A ấp Khu 2, xã Thạnh P, huyện Mỹ X, tỉnh Sóc T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 - Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 31/01/2019, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn bà Cao Thị Phương A trình bày: Bà Cao Thị Phương A và ông Lâm S kết hôn vào năm 2007 có đăng ký kết hôn ngày 19/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh P, huyện Mỹ X. Sau khi cưới bà và ông S chung sống hạnh phúc được 10 năm đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Sách không lo làm ăn thường tụ tập ăn nhậu từ đó vợ chồng sống chung không còn hạnh phúc, nên ông S về nhà cha mẹ ruột ở vợ chồng không còn sống chung cho đến nay. Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Lâm Hoàng A, sinh ngày 07/4/2008 và Lâm Khả H, sinh ngày 08/7/2015, hiện nay đang sống với bà A. Nay bà Cao Thị Phương A yêu cầu được ly hôn với ông Lâm S.

Về con chung: Bà Cao Thị Phương A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lâm Hoàng A, sinh ngày 07/4/2008 và Lâm Khả H, sinh ngày 08/7/2015 đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng: Bà Cao Thị Phương A không yêu cầu ông Lâm S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Lâm Sách: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông Lâm S theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông Lâm Sách không gửi ý kiến bằng văn bản cho Toà án biết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Sách cũng không đến Toà án để tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không đến tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm.

- Tại biên bản lấy lời khai khai 29/3/2019 và tại đơn xin vắng mặt ngày 29/3/2019 con chung trên 07 tuổi Lâm Hoàng A, sinh ngày 07/4/2008 trình bày: Khi cha mẹ cháu không còn sống chung nữa, nguyện vọng của cháu xin được sống với mẹ và cho cháu xin vắng mặt tại các phiên tòa vì cháu bận đi học Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn ông Lâm S đã được cấp, tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, vụ án được đưa ra xét xử đến lần thứ hai nhưng ông S vẫn vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Lâm S. Còn cháu Lâm Hoàng A có đơn xin xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt cháu Lâm Hoàng A.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Cao Thị Phương A; Về con chung: Giao cho bà Cao Thị Phương A được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lâm Hoàng A, sinh ngày 07/4/2008 (theo nguyện vọng của cháu A) và Lâm Khả H, sinh ngày 08/7/2015; Ông Lâm Sá được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở; Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Cao Thị Phương A không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Bị đơn, ông Lâm S đã được cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, vụ án được đưa ra xét xử đến lần thứ hai, nhưng ông S vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Lâm S. Còn cháu Lâm Hoàng A có đơn xin xét xử vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt cháu Lâm Hoàng A.

Về nội dung:

[1] Vụ kiện của bà Cao Thị Phương A và ông Lâm S là loại kiện hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bà Cao Thị Phương A và ông Lâm S kết hôn vào năm 2007 có đăng ký kết hôn ngày 19/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh P, huyện Mỹ X. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Cao Thị Phương A và ông Lâm S là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa hôm nay, bà Phương A vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông Sách, vì kể từ tháng 3 năm 2017 đến nay bà và ông Sách không còn sống chung, không còn quan tâm nhau, bà không còn tình cảm với ông S, kể từ khi bà gửi đơn yêu cầu ly hôn đến Tòa án, bà và ông Sách không còn liên hệ với nhau, giữa bà và ông Sách không thể hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẩn xảy ra vào tháng 10 năm 2018, đã hơn 02 năm nay hai bên vẫn không có thiện chí tìm cách hàn gắn đoàn tụ. Từ đó tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân giữa bà Phương A và ông S không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của bà Cao Thị Phương A, bà Cao Thị Phương A được ly hôn với ông Lâm S.

[2] Về con chung: Bà Cao Thị Phương A và ông Lâm S có 02 người con, tên Lâm Hoàng A, sinh ngày 07/4/2008 và Lâm Khả H, sinh ngày 08/7/2015 hiện nay con chung đang sống với bà Phương Anh. Bà Phương A yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu ông Sách cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, khi bà Phương Anh và ông Lâm Sách không còn chung sống với nhau cháu Lâm Hoàng A, sinh ngày 07/4/2008 và Lâm Khả H, sinh ngày 08/7/2015 vẫn do bà Phương A trực tiếp nuôi dưỡng, để đảm bảo cuộc sống của cháu Lâm Hoàng A, sinh ngày 07/4/2008 và Lâm Khả H, sinh ngày 08/7/2015. Ngoài ra tại biên bản lấy khai ngày 29/3/2019 cháu Lâm Hoàng A, sinh ngày 07/4/2008 có nguyện vọng sống với mẹ. Nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của luật hôn nhân và gia đình giao cho bà Cao Thị Phương Anh được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lâm Hoàng A, sinh ngày 07/4/2008 và Lâm Khả H sinh ngày 08/7/2015 đến tuổi trưởng thành.

Ông Lâm Sách được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Cao Thị Phương A không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Bà Cao Thị Phương A trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí sơ thẩm: Bà Cao Thị Phương A phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm theo định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị Phương Anh được quyền ly hôn với ông Lâm Sách.

2. Về con chung: Giao cho bà Cao Thị Phương A được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Lâm Hoàng A, sinh ngày 07/4/2008 (theo nguyện vọng của cháu Lâm Hoàng A) và Lâm Khả H, sinh ngày 08/7/2015 đến tuổi trưởng thành.

3. Ông Lâm S được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

4. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Cao Thị Phương Anh không yêu cầu nên không đặt ra xem xét

5. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét.

6. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

7. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Cao Thị Phương A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà A đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005422 ngày 14/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên. Như vậy, bà A đã nộp xong.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với bị đơn ông Lâm S thì thời gian kháng cáo nêu trên được tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án để xin Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2019/HNGĐ-ST ngày 06/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:15/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Xuyên - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 06/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về