Bản án 15/2018/HS-ST ngày 28/09/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 15/2018/HS-ST NGÀY 28/09/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 28 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15 /2018/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2018/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2018, đối với bị cáo: Thạch Sa P, sinh năm 1991 tại huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: lớp 10/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Thạch T, sinh năm 1950 và bà Trịnh Thị Th, sinh năm 1951 (chết); Vợ: Sơn Thị Chanh Đ, sinh năm 1974; Con ruột có 02 người (01 nam, 01 nữ) lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án: không; Tiền sự: ngày 01/8/2017 bị Công an xã T, huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng; Ngày 24/02/2018 bị Công an xã C, huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 2.000.000 đồng ; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/6/2018 cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa: Bà Lục Khả T, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh, bào chữa cho bị cáo P.

- Người làm chứng:

1. Anh Trần Thanh L, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp 2, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

2. Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1961. Địa chỉ: ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

3. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

4. Anh Chung K, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp 1, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

5. Anh Chung Hứng D, sinh năm 1970. Địa chỉ: ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 23/5/2018, Công an xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh phát hiện và bắt quả tang bị cáo Thạch Sa P đã có hành vi đánh bạc trái phép mà được thua bằng tiền với hình thức chơi tài xỉu với Trần Thanh L, Nguyễn Văn D, Chung K và một số người khác (không rõ họ, tên và địa chỉ) tại khu vườn trống của ông Nguyễn Văn M thuộc ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Quá trình xác minh tiền án, tiền sự của những người chơi đánh bạc xác định, vào ngày 24/02/2018 bị cáo Thạch Sa P đã bị Công an xã C, huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép mà được thua bằng tiền, đến ngày 23/5/2018 bị cáo P tiếp tục vi phạm như đã nêu trên.

Quá trình điều tra chứng minh: Vào khoảng 22 giờ ngày 23/5/2018, bị cáo Thạch Sa Phanh và Chung K đang uống bia tại quán MAI GHÉ NỮA thuộc khóm 5, thị trấn Cầu Kè, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì bị cáo P nhận được cuộc gọi điện thoại của ông Nguyễn Văn G (Bé G) ngụ ấp 1, xã Phong Thạnh, huyện C, tỉnh Trà Vinh với nội dung “Xuống đây chơi, có người kiếm chơi”, bị cáo P hiểu rằng ông G rũ bị cáo xuống để đánh bạc vì có người muốn đánh bạc, bị cáo rũ K cùng đi đánh bạc thì K đồng ý. Sau đó, bị cáo chở Chung K về nhà của bị cáo để lấy 01 (một) bộ dụng cụ lắc tài xỉu và mang theo số tiền 3.500.000 đồng, rồi cả hai đi đến quán nước giải khát của gia đình ông G tại ấp 1, xã P. Tại đây, bị cáo gặp được Trần Thanh L và Nguyễn Văn D bị cáo cùng với K và những người khác đi bộ vào khu vực đất trống của ông Nguyễn Văn M cách đó khoảng 100m để đánh bạc. Sau đó, có một số người khác (không rõ họ, tên và địa chỉ) cũng đến để chơi đánh bạc. Bị cáo P cầm toàn bộ số tiền sử dụng đánh bạc trong tay để thuận tiện giao, nhận với những người chơi đánh bạc với bị cáo khi kết thúc mỗi ván. Quá trình đánh bạc, bị cáo Thạch Sa P sử dụng số tiền 3.500.000 đồng để đánh bạc, Nguyễn Văn D sử dụng số tiền 50.000 đồng để đánh bạc, Trần Thanh L sử dụng số tiền 50.000 đồng để đánh bạc và Chung K sử dụng số tiền 100.000 đồng để đánh bạc. Trong lúc đang đánh bạc thì bị lực lượng Công an xã P phát hiện bắt quả tang, bị cáo P, Trần Thanh L, Nguyễn Văn D và Chung K bỏ chạy nhưng đã bị Công an xã P bắt được, còn những người khác đã chạy thoát.

Quy luật chơi và tỉ lệ thắng thua như sau: bị cáo P trực tiếp sử dụng bộ dụng cụ lắc tài xỉu để làm cái, quy ước cho những người chơi đánh bạc đặt cược, phía bên phải của bị cáo là “tài” (sau khi đỗ ra, tổng ba hạt súc sắc từ 11 điểm trở lên), phía bên trái của bị cáo là “xỉu” (sau khi đỗ ra, tổng ba hạt súc sắc dưới 11 điểm), tổng số tiền đặt cược mỗi ván không quá 500.000 đồng.

Ngoài ra, quá trình điều tra, bị cáo P khai nhận: Khi phát hiện Công an xã P đến, bị cáo đã cầm số tiền đem theo đánh bạc bỏ chạy, nhảy xuống Kênh nước và số tiền đánh bạc đã bị rơi xuống kênh nước không tìm thấy được nên không xác định được số tiền bị rơi mất là bao nhiêu, do trong quá trình chơi bị cáo đã dùng số tiền đem theo đánh bạc thu, chi qua lại với những người chơi đánh bạc.

Quá trình làm việc, ông Nguyễn Văn G khai nhận: Vào đêm 23/5/2018, ông G có gọi điện thoại cho bị can P với mục đích là rũ bị cáo đến nhà ông để tổ chức uống rượu, ngoài ra không có mục đích nào khác, thời điểm xảy ra vụ việc đánh bạc thì ông Gái đang uống rượu với Chung Hứng D, sinh năm 1970, ngụ cùng ấp với ông G. Do đó, không có căn cứ xử lý đối với ông G về hành vi rũ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép.

Đối với những người tham gia đánh bạc với bị cáo P mà chưa xác định được họ tên và địa chỉ, đã chạy thoát khi Công an xã P bắt quả tang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi tham gia đánh bạc của Trần Thanh L, Nguyễn Văn D và Chung K, chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, ngày 29/5/2018 Công an xã P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L, D và K mỗi người 1.500.000 đồng theo điểm a khoản 2 Điều 26 Nghị định số: 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Đồng thời, qua làm việc xác định số tiền 3.000.000 đồng thu giữ trên người Chung Khanh là tiền không phải dùng để đánh bạc nên Công an xã P đã tiến hành trao trả lại cho Chung K.

Về vật chứng:

- Số tiền tang vật thu giữ trên chiếu bạc là 200.000 đồng, Công an xã P đã ra Quyết định tịch thu số tiền trên sung vào Ngân sách Nhà nước.

- 01 (một) dĩa sứ màu trắng, nhãn hiệu Chuan Kuo; 01 (một) chén nhựa màu trắng, bên ngoài có hoa văn màu đỏ, nhãn hiệu FATACO; 03 (ba) hạt súc sắc; 01 (một) tấm trải nilon hình chữ nhật, có một mặt màu cam, một mặt màu xanh, kích thước 3,8m x 1,93m; 01 (một) đèn pin màu vàng - đen, có dây đeo đội đầu màu đen, (tất cả đều đã qua sử dụng).

Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS-HS ngày 30/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh T đã truy tố bị cáo Thạch Sa P về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa bị cáo Thạch Sa P đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng thể hiện là đúng, bị cáo không bổ sung hay khiếu nại về nội dung Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thạch Sa P từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy - 01 (một) dĩa sứ màu trắng, nhãn hiệu Chuan Kuo; 01 (một) chén nhựa màu trắng, bên ngoài có hoa văn màu đỏ, nhãn hiệu FATACO; 03 (ba) hạt súc sắc; 01 (một) tấm trải nilon hình chữ nhật, có một mặt màu cam, một mặt màu xanh, kích thước 3,8m x 1,93m; 01 (một) đèn pin màu vàng - đen, có dây đeo đội đầu màu đen, (tất cả đều đã qua sử dụng).

Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Thạch Sa P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến bào chữa của vị Trợ giúp viên pháp lý: vị trợ giúp viên pháp lý thống nhất với quan điểm luận tội của vị Kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Tuy nhiên vị trợ giúp viên pháp lý đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Thạch Sa P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình làm việc ở giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ ở điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 do bị cáo là người dân tộc sống ở vùng khó khăn, đồng thời áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền đối với bị cáo là thỏa đáng.

Bị cáo Thạch Sa P thống nhất với ý kiến bào chữa của Vị trợ giúp viên pháp lý, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Bị cáo Thạch Sa P nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

 [2] Xét hành vi của bị cáo Thạch Sa P: Bị cáo P khai nhận vào khoảng 23 giờ, ngày 23/5/2018 tại khu đất trống cặp bờ kênh của ông Nguyễn Văn M, bị cáo đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi tài xỉu mà được, thua bằng tiền với Trần Thanh L, Nguyễn Văn D, Chung K và một số người khác bị Công an xã P bắt quả tang. Bị cáo thống nhất với nội dung Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Thạch Sa P về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

 [3] Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo là người trưởng thành, đã có gia đình riêng, có nghề nghiệp ổn định, lẻ ra bị cáo phải tích cực lao động để tạo ra thu nhập hợp pháp nhằm nuôi sống, làm giàu cho bản thân, gia đình và làm tốt vai trò, trách nhiệm của người công dân trong việc tố giác các hành vi vi phạm pháp luật khác. Không làm được như vậy, bị cáo lại thường xuyên đánh bạc trái phép mà được, thua bẳng tiền ở nhiều nơi trên địa bàn huyện C. Mặc dù, bị cáo đã nhiều lần bị lực lượng Công an phát hiện xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo vẫn không từ bỏ mà tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để bị cáo có điều kiện học tập và cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng chống tội phạm cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo P cũng cần xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thì bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình để thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật và áp dụng hình phạt tiền cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo từ bỏ thói đam mê cờ bạc.

 [4] Về vật chứng vụ án: số tiền tang vật thu được trên chiếu bạc là 200.000 đồng, Công an xã P đã ra Quyết định tịch thu số tiền trên sung vào Ngân sách Nhà nước đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tuyên tịch thu tiêu hủy - 01 (một) dĩa sứ màu trắng, nhãn hiệu Chuan Kuo; 01 (một) chén nhựa màu trắng, bên ngoài có hoa văn màu đỏ, nhãn hiệu FATACO; 03 (ba) hạt súc sắc; 01 (một) tấm trải nilon hình chữ nhật, có một mặt màu cam, một mặt màu xanh, kích thước 3,8m x 1,93m; 01 (một) đèn pin màu vàng - đen, có dây đeo đội đầu màu đen, (tất cả đều đã qua sử dụng).

 [5] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Thạch Sa P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

 [6] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Chấp nhận ý kiến bào chữa cho bị cáo của vị trợ giúp viên pháp lý. [8] Bị cáo được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Thạch Sa P phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thạch Sa P 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy - 01 (một) dĩa sứ màu trắng, nhãn hiệu Chuan Kuo; 01 (một) chén nhựa màu trắng, bên ngoài có hoa văn màu đỏ, nhãn hiệu FATACO; 03 (ba) hạt súc sắc; 01 (một) tấm trải nilon hình chữ nhật, có một mặt màu cam, một mặt màu xanh, kích thước 3,8m x 1,93m; 01 (một) đèn pin màu vàng - đen, có dây đeo đội đầu màu đen, (tất cả đều đã qua sử dụng). Số vật chứng này hiện nay đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè.

Về án phí: Buộc bị cáo Thạch Sa P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


113
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2018/HS-ST ngày 28/09/2018 về tội đánh bạc

Số hiệu:15/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cầu Kè - Trà Vinh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về