Bản án 15/2018/HNGĐ-ST ngày 13/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN E, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 15/2018/HNGĐ-ST NGÀY 13/08/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện E xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 154/2018/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2018 về việc " Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985.

Trú tại: Khóm 1, khối 4B, thi trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk (có mặt).

-Bị đơn: Ông Ngô Văn B, sinh năm 1978.

Trú tại: Khóm 1, khối 4B, thi trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Ngô Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2005 và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Đắk Liêng, huyện L, tỉnh Đăk Lăk. Quá trình chung sống, vợ chồng không có hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thiếu sự thông cảm và ông B thường xuyên rượu chè bê tha. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chung sống với nhau cũng không có hạnh phúc nên bà T có nguyện vọng ly hôn với ông Ngô Văn B. Ông B xác định quá trình chung sống với nhau vợ chồng có mâu thuẫn vì ông B rượu chè dẫn đến cãi nhau nhiều lần nhưng ông B không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị T.

Về con chung: Bà T và ông B sinh được 02 (hai) con chung là Ngô Thị Hoài Th, sinh ngày 09/02/2006 và Ngô Thị Thanh M, sinh ngày 11/4/2007. Bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông B cấp dưỡng tiền nuôi con. Ông B có nguyện vọng cùng bà T chăm sóc hai con chung cho đến khi con chung trưởng thành.

Về tài sản chung và công nợ chung: Bà T và ông B tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 2/6/2018, Ban tự quản khối 4B, thị trấn, huyện E xác định quá trình chung sống của bà Nguyễn Thị T và ông Ngô Văn B có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông B thường xuyên uống rượu về nhà có xảy ra cãi vã với bà T, ông B không quan tâm tới gia đình, thường xuyên không có mặt ở nhà.

Ngày 26/7/2018, Tòa án nhân dân huyện E mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng bị đơn ông Ngô Văn B vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 233, Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù ông B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông B theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Ngô Văn B;

Về con chung: Giao hai con chung Ngô Thị Hoài Th, sinh ngày 09/02/2006 và Ngô Thị Thanh M, sinh ngày 11/4/2007 cho bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng. Các bên đều không yêu cầu cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung nên không đặt ra giải quyết.

Đồng thời, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa khẳng định quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện E thụ lý và giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa bà T và ông B là đúng thẩm quyền xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét lời khai của đương sự và tài liệu trong hồ sơ vụ án, xác định: Bà Nguyễn Thị T và ông Ngô Văn B tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đắk Liêng, huyện L, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 04/01/2005 là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ vào biên bản xác minh tại chính quyền địa phương và lời trình bày của các đương sự trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, xác định: bà T và ông B chung sống không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thiếu sự thông cảm, ông B thường xuyên rượu chè và không quan tâm đến gia đình. Như vậy, xét tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, cần chấp nhận.

[3] Về con chung: Sau khi xem xét nguyện vọng của con chung Ngô Thị Hoài Th, sinh ngày 09/02/2006 và Ngô Thị Thanh M, sinh ngày 11/4/2007, xem xét đến quyền lợi mọi mặt của con chung, xét thấy giao con chung Ngô Thị Hoài Th, sinh ngày 09/02/2006 và Ngô Thị Thanh M, sinh ngày 11/4/2007 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi là có căn cứ và phù hợp với các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, cần chấp nhận.

[4] Về cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung: Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Ông Ngô Văn B có quyền đi lại thăm nom các con chung và không bị cản trở. Tuy nhiên, ông B không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởngxấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo  dục con chung. Vì lợi ích của các con chung các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung và công nợ chung: Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án, các đương sự xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a Khoản 5 Điều 27, tiểu mục 1.1 mục 1 phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004315 ngày 21/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện E.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27, tiểu mục 1.1 mục 1 phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Ngô Văn B.

2. Về con chung: Giao con chung Ngô Thị Hoài Th, sinh ngày 09/02/2006 và Ngô Thị Thanh M, sinh ngày 11/4/2007 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung: Các đương sự đều không yêu cầu giải  quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Ông Ngô Văn B có quyền đi lại thăm nom các con chung và không bị cản trở. Tuy nhiên, ông B không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của các con chung các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0004315 ngày 21/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện E.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2018/HNGĐ-ST ngày 13/08/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:15/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ea Súp - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về