Bản án 15/2017/DSST ngày 04/07/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tiền

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 15/2017/DSST NGÀY 04/07/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TIỀN

Trong ngày 04 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2016/TLST-KDTM ngày 18 tháng 10 năm 2016 về tranh chấp “hợp đồng vay tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2017/QĐST- DS ngày 11 tháng 4 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT

Địa chỉ: số 266-268, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: ông Phan H K – chức vụ: Tổng giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Phan T L – chức vụ: Trưởng phòng giao dịch thị trấn Phước Long.

Địa chỉ: ấp Nội Ô, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Anh Bùi Hoàng H, sinh năm 1982.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Phước III A, xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Chỗ ở hiện nay: ấp Long Đức, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Trịnh Mộng T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: ấp Long Đức, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

(Anh Lộc có mặt tại phiên tòa, anh H và chị T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT: theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 7 năm 2016, Ngân hàng yêu cầu anh Bùi Hoàng H trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 29.171.000 đồng, lãi trong hạn, quá hạn là 12.180.979 đồng và lãi phát sinh từ ngày 15/01/2019 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất bằng 150% lãi suất cho vay tại hợp đồng tín dụng số LD1501400392 ngày 14/01/2015.

Bị đơn anh Bùi Hoàng H vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Trịnh Mộng T có lời khai trình bày: Anh Bùi Hoàng H là chồng của chị, từ trước đến nay chị không biết việc anh H vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT, Phòng giao dịch thị trấn Phước Long; khi anh H vay tiền cũng không có đem tiền này về phục vụ cho gia đình. Do nợ này là nợ riêng của anh H nên anh H phải có nghĩa vụ tự trả cho Ngân hàng.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là đúng quy định pháp luật. Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự (do vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa không có lý do). Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT. Buộc anh Bùi Hoàng H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc là 29.171.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 04/7/2017 là 12.180.979 đồng và lãi suất phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất bằng 150% lãi suất cho vay tại hợp đồng tín dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT kiện anh Bùi Hoàng H về tranh chấp hợp đồng vay tiền tại Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu và Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý, giải quyết là phù hợp với khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

 [2] Về nội dung vụ án:

[3] Theo hợp đồng tín dụng số: hợp đồng tín dụng số LD1501400392 ngày  14/01/2015 và giấy nhận nợ ghi ngày 14/10/2015 thể hiện anh Bùi Hoàng H có vay vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTT, Phòng giao dịch thị trấn Phước Long với số tiền vay 40.000.000 đồng, thời hạn vay 48 tháng; trả nợ theo kỳ, thời điểm trả nợ kỳ cuối là vào ngày 14/01/2019, việc vay nợ không có tài sản thế chấp. Từ ngày 14/01/2015 đến ngày 06/07/2016, anh H có thanh toán cho Ngân hàng tiền vốn và lãi số tiền 14.729.000 đồng (trong đó; tiền vốn 10.829.000 đồng và lãi là 3.900.000 đồng).

[4] Hiện tại hợp đồng vay vốn của anh H đã chuyển sang quá hạn và Ngân hàng tạo điều kiện về mặc thời gian để anh H trả nợ cho Ngân hàng nhưng anh H vẫn cố tình không trả nợ.

[5] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Phước Long thấy rằng, việc Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT – Phòng giao dịch thị trấn Phước Long có cho anh Bùi Hoàng H vay số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng, lãi suất, thời gian vay vốn,… như đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày là có diễn ra trên thực tế (thể hiện qua BL số 02-07). Từ ngày 14/01/2015 đến ngày 06/07/2016, anh H có thanh toán cho Ngân hàng tiền vốn và lãi số tiền 14.729.000 đồng.

[6] Theo bảng tính lãi hồ sơ quá hạn ghi ngày 04/7/2017 của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT – Phòng giao dịch thị trấn Phước Long thì tính đến ngày xét xử anh Bùi Hoàng H còn nợ của Ngân hàng số tiền gốc là 29.171.000 đồng và nợ lãi trong hạn và quá hạn là 12.180.979 đồng. Tổng cộng là 41.351.979 đồng. Về phía đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và chị T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều xác định đây là nợ riêng của anh H.

[7] Về phía anh Bùi Hoàng H và chị Trịnh Mộng T đã được Tòa án nhân dân huyện Phước Long triệu tập hợp lệ đến Tòa án nhiều lần theo quy định của pháp luật nhưng đều vắng mặt không có lý do; Tòa án nhân dân huyện Phước Long có kết hợp với chính quyền ấp Long Đức, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu đến nhà anh H để lấy lời khai anh H nhiều lần nhưng anh H đều vắng mặt tại nơi cư trú nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai của anh H được; thể hiện quan biên bản không làm việc được với anh H ghi các ngày 24/11/2016 và ngày 23/02/2017. Theo xác nhận của Chính quyền địa phương và vợ anh H là chị T thì anh H đang cư trú cùng với chị T, nhưng ban ngày anh đi làm ở huyện Hòa Bình, chỉ về nhà sau 18 giờ. Từ những chứng cứ và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ do phía nguyên đơn cung cấp và quy định tại khoản 2, 4 Điều 91 và Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT đòi anh Bùi Hoàng H trả tiền nợ vay gốc là 29.171.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày 04/7/2017 là 12.180.979 đồng, tổng số tiền là 41.351.979 đồng.

[8] Về án phí xét xử dân sự sơ thẩm có giá ngạch, buộc anh Bùi Hoàng H phải nộp theo quy định của pháp luật.

 [9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26; 35; 39; khoản 2, 4 Điều 91; 93, 96; 97; 99 và 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 280 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào Pháp lệnh 10/2009/UBTVQU12 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Áp dụng Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/8/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần SGTTđòi anh Bùi Hoàng H trả nợ vay gốc và nợ vay lãi theo hợp đồng tín dụng số LD1501400392 ngày 14/01/2015.

2/ Buộc anh Bùi Hoàng H có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT tổng số tiền 41.351.979 đ (Bốn mươi mốt triệu, ba trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm bảy mươi chín đồng) (tính đến ngày 04/7/2017).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tụcchịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suấtmà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3/ Về án phí xét xử dân sự có giá ngạch: buộc anh Bùi Hoàng H phải nộp sốtiền 2.067.598 đ (Hai triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi tám đồng); Ngân hàng thương mại cổ phần SGTT, Phòng giao dịch thị trấn Phước Long đã tạm ứng án phí số tiền 991.775 đ (Chín trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm bảy mươi lăm đồng) theo biên lai số 0002767 ngày 17/10/2016 sẽ được hoàn lại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6, quyền nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a và 7b; tự nguyện thi hành án, hoặc cưởng chế thi hành án theo Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.


141
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về