Bản án 149/2019/HS-ST ngày 22/11/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 149/2019/HS-ST NGÀY 22/11/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2019/TLHS- ST ngày 30 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019, đối với bị cáo:

Hoàng Văn Đ, sinh ngày 15/8/2001 tại Hà Nam; tên gọi khác: không; nơi cư trú: Xóm 6, xã LC, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc T, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1969; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Huyền Chi - trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; nơi làm việc: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam thuộc Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có gửi văn bản bào chữa.

- Bị hại: Ông Đinh Văn H, sinh năm 1940 (đã chết).

Đại diện theo pháp luật của bị hại:

1. Chị Đinh Thị Mỹ H1, sinh năm 1971; trú tại: Số nhà 11 NCT, phường MĐ 2, quận NTL, thành phố Hà Nội.

2. Chị Đinh Thị H2, sinh năm 1974; trú tại: CT1, khu đô thị VC, huyện HĐ, thành phố Hà Nội.

3. Anh Đinh Thanh T, sinh năm 1977; trú tại: Tổ dân phố TT, phường TC, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.

Chị Đinh Thị Mỹ H1 và chị Đinh Thị H2 ủy quyền cho anh Đinh Thanh T, sinh năm 1977; trú tại: Tổ dân phố TT, phường TC, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Đắc H3, sinh năm 1989; trú tại: Thôn VL, xã LT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên tòa.

2. Chị Hoàng Thị H4, sinh năm 1992; trú tại: Thôn VL, xã LT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên tòa.

* Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Dương Duy A, sinh ngày 25/01/2002. Đại diện hợp pháp của người làm chứng: Bà Lại Thị L - Bí thư Đoàn thanh niên xã Liêm Chung, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 09 giờ ngày 30/4/2019, Hoàng Văn Đ (không có giấy phép lái xe mô tô) đến nhà anh Nguyễn Đắc H3 (là anh rể của Đ) để mượn xe mô tô đi chơi. Lúc này anh H3 không có ở nhà, thấy trước cửa nhà có chiếc xe mô tô BKS 90B2-156.04 của anh H3, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện nên Đ tự ý lấy xe mô tô và điều khiển đến nhà Dương Duy A. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô chở Duy A đi trên đường Đinh Tiên Hoàng theo hướng Nam Định - QL1A. Khi đi đến đoạn đường thuộc tổ 1, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Phủ Lý thì Đ vừa điều khiển xe mô tô vừa quay về phía sau nói chuyện với Duy A nên không quan sát phía trước. Khi Đ quay lại phía trước thì phát hiện ông Đinh Văn H đang đi bộ sang đường từ phải sang trái theo hướng đi của Đ. Do khoảng cách gần nên Đ không kịp xử lý làm tay nắm đầu xe bên trái, bánh xe trước của xe mô tô do Đ điều khiển đâm va vào ông H, làm ông H ngã ra đường bị thương tích, ông H được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam. Đến 02 giờ 30 phút ngày 01/5/2019 thì ông H tử vong.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đường Đinh Tiên Hoàng thuộc tổ 1, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Phủ Lý. Đi theo hướng Nam Định - QL1A đoạn đường này cong về phía bên trái được trải nhựa áp phan phẳng, mặt đường khô ráo không có chướng ngại vật, không có biển báo hiệu giao thông đường bộ. Đường Đinh Tiên Hoàng được chia làm hai chiều đường bằng vạch kẻ đứt khúc, màu vàng rộng 0m15cm. Chiều đường Nam Định - QL1A rộng 6m20cm, chiều đường QL1A - Nam Định rộng 5m60cm. Tại vị trí xảy ra tai nạn giao thông mặt đường Đinh Tiên Hoàng có kẻ cụm vạch giảm tốc độ (gồm 05 vạch) ngang đường chiều dài, cụm giảm tốc độ dài 3m00.

Lấy mép ngoài tường nhà số 170 tổ 1, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Phủ Lý về phía QL1A làm mốc. Lấy mép đường chiều dài từ QL1A - Nam Định làm đường chuẩn.

- Xe mô tô BKS 90B2-156.04 ký hiệu (1) đổ nằm bên phải trên chiều đường QL1A - Nam Định đầu xe hướng QL1A đuôi xe hướng Nam Định. Tâm trục bánh sau đánh mốc 0m92 về phía QL1A cách đường chuẩn 5m50, tâm trục bánh trước cách đường chuẩn 5m29.

- Vết cày đứt quãng kích thước (112x0,5)cm ký hiệu (2) vết có hướng Nam Định - QL1A chếch chéo từ giữa đường vào đường chuẩn. Điểm đầu vết cách tâm trục bánh sau của (1) là 0m46 về phía Nam Định cách đường chuẩn 5m80, cuối vết trùng với đầu ngoài để chân chính bên phải tỳ sát mặt đường.

- Vết cày ký hiệu (3) hướng Nam Định - QL1A chếch chéo từ giữa đường vào đường chuẩn đầu vết cách điểm đầu vết (2) là 0m68 về phía QL1A cách đường chuẩn 6m07 cuối vết trùng với đầu ngoài tay nắm bên phải (1) cách đường chuẩn 5m92.

- Vết máu ký hiệu (4) ở vị trí giữa đường trên chiều đường QL1A - Nam Định, tâm vết cách trục bánh sau (1) là 2m50 về phía Nam Định, cách đường chuẩn là 4m26.

* Kết quả khám nghiệm xe mô tô BKS 90B2-156.04:

- Má bên trái lốp bánh trước và mặt lăn liền kề có vết sạt cao su, chùi bụi kích thước (2,5x5)cm, gần nhất vết cách cạnh vành bên trái 1,5cm đầu vết cách chân van 62cm đo theo chiều cong mặt lăn lốp ngược chiều kim đồng hồ.

- Mặt trước ống càng tại vị trí bắt trục bánh trước bên trái có vết chùi bụi kích thước (3x3,2)cm vết hướng từ trước về sau chếch từ phải sang trái thấp nhất cách mặt đất 29cm.

- Mặt ngoài cánh yếm bên trái phần phía trên có vết xước, chùi bụi kích thước trên diện (15x7)cm vết hướng từ trước về sau, điểm cao nhất vết cách mặt đất 80cm, gần nhất cách đầu mép cánh yếm 9cm.

- Đèn xi nhan trước trái dán ni lông màu đen mặt ngoài phần phía trước có vết trầy xước ni lông kích thước (3x1)cm vết chếch từ phải sang trái cao nhất cách mặt đất 96cm, gần nhất cách đuôi đèn xi nhan 6cm.

* Kết quả khám nghiệm tử thi:

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 58/19/TT ngày 16/5/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam kết luận: “Nạn nhân Đinh Văn H tử vong do chấn thương sọ não nặng làm vỡ xương hộp sọ gây dập não, phù não”.

* Vật chứng, đồ vật, tài liệu bị thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS 90B2-156.04; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô BKS 90B2-156.04; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Hoàng Văn Đ và 01 chiếc USB Kingston chứa dữ liệu điện tử.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Hoàng Văn Đ và gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Gia đình bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự.

Từ những nội dung trên, bản cáo trạng số 146/CT-VKS-PL ngày 29/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Hoàng Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội: giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 91; Điều 98; Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 36 đến 42 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại, đến nay gia đình bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại Hoàng Văn Đ một căn cước công dân mang tên Hoàng Văn Đ; 01 chiếc USB Kingston chứa dữ liệu điện tử được đưa vào hồ sơ vụ án làm căn cứ giải quyết vụ án.

- Bị cáo Hoàng Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người bào chữa của bị cáo có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được rèn luyện trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội.

- Đại diện theo pháp luật của bị hại anh Đinh Thanh T có ý kiến: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Hoàng Văn Đ cùng với gia đình đã bồi thường cho gia đình anh số tiền là 50.000.000 đồng và thường xuyên đến thăm hỏi, động viên gia đình anh. Đến nay gia đình anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Đắc H3 và chị Hoàng Thị H4 có quan điểm: Ngày 30/4/2019, vợ chồng anh chị đưa con đi tiêm, có để xe máy ở nhà, trên xe có cắm chìa khóa, Đ tự ý lấy xe đi chơi không được sự đồng ý của anh chị. Nay Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại xe và giấy tờ xe cho anh chị, anh chị không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đánh giá về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định pháp y cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/4/2019, Hoàng Văn Đ (không có giấy phép lái xe mô tô) điều khiển xe mô tô BKS 90B2- 156.04 chở Dương Duy A đi trên đường Đinh Tiên Hoàng thuộc tổ 1, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Phủ Lý hướng Nam Định - QL1A, Đ điều khiển xe mô tô nhưng không quan sát phía trước, không giảm tốc độ, không nhường đường cho người đi bộ nên tay nắm đầu xe bên trái và bánh trước của xe mô tô do Đ điều khiển đã đâm va vào ông Đinh Văn H đang đi bộ qua đường làm ông H bị thương tích, đến 02 giờ 30 phút ngày 01/5/2019 thì tử vong. Hành vi nêu trên của Hoàng Văn Đ đã vi phạm khoản 9 Điều 8; khoản 4 Điều 11 của Luật giao thông đường bộ; khoản 6 Điều 5 của Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải. Do vậy, hành vi của Hoàng Văn Đ đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[3] Đánh giá về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn khi tham gia giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hậu quả vụ án là nghiêm trọng nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, trong vụ án này có một phần lỗi của bị hại nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt.

[4] Đánh giá về hình phạt:

Để quyết định hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa đại diện theo pháp luật của bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nên cần áp dụng mức hình phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội theo quy định tại Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo và gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Gia đình bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:

- Đối với 01 thẻ căn cước công dân mang tên Hoàng Văn Đ là giấy tờ hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 chiếc USB Kingston được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, bên trong chứa dữ liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần đưa vào hồ sơ vụ án làm căn cứ giải quyết vụ án.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS 90B2-156.04; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô BKS 90B2-156.04 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Đắc H3 và chị Hoàng Thị H4, anh chị không biết Đ tự ý lấy xe sử dụng và gây tai nạn, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại chiếc xe trên cùng giấy tờ xe cho anh H3 chị H4 là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Xử lý vật chứng:

- Trả lại bị cáo Hoàng Văn Đ 01 căn cước công dân số 035201000926 mang tên Hoàng Văn Đ.

- Chuyển vào hồ sơ vụ án 01 (một) phong bì thư ký hiệu M2, trên phong bì có chữ ký, chữ viết đề tên Ngô Ngọc Hà, Nguyễn Văn Thành, Hoàng Văn Đ, Phạm Thị Hoa, Đặng Võ Cường và có hình dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 08/11/2019).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


19
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về