Bản án 147/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 147/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/05/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 08 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Đặng Thị Kim S, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Tổ X, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)

2. Bị đơn: Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1988;

Địa chỉ: Tổ Y, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 16-4-2018, quá trình tố tụng nguyên đơn chị Đặng Thị Kim S trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Q cưới nhau vào năm 2009, hôn nhân do mai mối và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C vào ngày 28-10-2009. Anh chị chung sống hạnh phúc được gần hai năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng trong cuộc sống, anh Q sinh ra ăn chơi, uống rượu thường xuyên, không chí thú làm ăn, không quan tâm đến vợ con… nên gia đình không êm ấm, hạnh phúc.

Vào tháng 9-2015, chị đã gửi đơn xin ly hôn với anh Q nhưng qua hòa giải chị đã rút đơn khởi kiện để anh Q sửa đổi, tạo cơ hội cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng từ năm 2015 đến nay anh Q không sửa đổi tính tình mà ngày càng quá đáng hơn, nên mâu thuẫn vợ chồng giữa chị và anh Q ngày càng trầm trọng. Từ tháng 3-2018 anh chị đã ly thân cho đến nay. Chị S nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh Q.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 26-7- 2010 và Nguyễn Đặng Khã N, sinh ngày 15-9-2012. Hiện nay hai cháu T và N đang sống với chị S. Sau khi ly hôn chị S yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 19-3-2019, cháu Nguyễn Thị Anh T trình bày nguyện vọng được tiếp tục sống với chị S nếu chị S và anh Q ly hôn.

* Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Nguyễn Hữu Q nhưng anh Q đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án tiến hành các thủ tục xác minh, lấy lời khai nhưng bị đơn không có mặt tại nhà khi cán bộ Tòa án đến, nên không lấy được lời khai của bị đơn.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:

+ Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị S, giao hai cháu Anh T và Khã N cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

1.1 Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Chị S có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; tại biên bản xác minh ngày 11-3-2019, Công an xã B xác nhận anh Q hiện có đăng ký hộ khẩu và đang sinh sống tại tổ Y, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

1.2 Về sự có mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: Chị S và anh Q có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình và được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 84/10, quyển số 01/2009 ngày 28-10-2009. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ khi xảy ra tranh chấp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện cho chị S và anh Q được đoàn tụ, nhưng chị S cương quyết ly hôn, anh Q đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh Q cũng không có nguyện vọng được đoàn tụ với chị S. Như vậy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị S.

2.2 Về con chung: Chị S trình bày anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 26-7-2010 và Nguyễn Đặng Khã N, sinh ngày 15-9-2012. Chị S có yêu cầu được tiếp tục nuôi con, anh Q không có ý kiến trình bày. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay hai cháu Anh T và Khã N đều đang sống với chị S và các cháu cũng có nguyện vọng được sống với mẹ, cháu T và Khã N đều được chị S chăm sóc chu đáo, cho ăn học đầy đủ, để cho cuộc sống của các cháu được ổn định, không bị xáo trộn. Căn cứ vào quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị S, giao hai cháu T và N cho chị S tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị S không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không buộc anh Q phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị S và gia đình phải tạo điều kiện cho anh Q trong việc thực hiện nghĩa vụ, quyền của cha mẹ đối với con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Chị S trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị S là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Kim S.

- Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Kim S được ly hôn với anh Nguyễn Hữu Q. Giấy chứng nhận kết hôn số 84/10, quyển số 01/2009 ngày 28-10-2009 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Chị Đặng Thị Kim S được quyền nuôi hai con chung tên Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 26-7-2010 và Nguyễn Đặng Khã N, sinh ngày 15- 9-2012.

Anh Nguyễn Hữu Q không cấp dưỡng nuôi con do chị Đặng Thị Kim S không yêu cầu.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc nuôi con có thể bị thay đổi dựa trên cơ sở lợi ích của con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

2. Về án phí sơ thẩm: Chị Đặng Thị Kim S phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003440 ngày 23-4-2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền háng cáo: Chị Đặng Thị Kim S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08-5-2019). Anh Nguyễn Hữu Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 147/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:147/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về