Bản án 145/2018/HNGĐ-ST ngày 06/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 145/2018/HNGĐ-ST NGÀY 06/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 06 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 305/2018/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2018 về “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2018/QĐXXST – HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp CRA, xã PH, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Huỳnh Thảo N, sinh năm 1996 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp KT, xã KL, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 20/4/2018 nguyên đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:

Anh và chị Huỳnh Thảo N tự nguyện kết hôn vào ngày 23/12/2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã KL, huyện TVT. Trong thời gian chung sống vợ chồng sống hạnh phúc và có 01 con chung tên Nguyễn Như Y, sinh năm 2016.

Nhưng hiện nay với nhiều lý do khác nhau chị N không còn thương yêu anh nên anh xác định đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu ly hôn. Về con chung anh và chị N tự thỏa thuận nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung và nợ chung anh xác định không có.

- Tại phiên tòa chị Huỳnh Thảo N trình bày:

Nay chị đồng ý thuận tình ly hôn với anh C, nguyên nhân trong quá trình chung sống anh C tham gia cờ bạc nên vợ chồng mâu thuẫn, cự cải nhau và ly thân hơn 01 năm nay. Về con chung là đúng, chị yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận phân chia và nợ chung là không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án anh C có đơn xin vắng mặt không tham gia hòa giải và phiên tòa sơ thẩm. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 207 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C là có căn cứ.

[2] Về hôn nhân: Thấy rằng anh C và chị N tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống anh C xác định mâu thuẫn trầm trọng, sống không hạnh phúc và yêu cầu ly hôn. Đối với chị N đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh C, điều này cho thấy mâu thuẫn anh C đặt ra là có cơ sở. Từ căn cứ trên, xét thấy mối quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh C là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Như Y, sinh ngày 21/10/2016. Xét thấy, cháu Y hiện chưa đủ 36 tháng tuổi và do chị N đang nuôi dưỡng từ khi anh chị ly thân đến nay. Hơn nữa, anh C không có yêu cầu nuôi con chung. Do đó, Tòa án cần tiếp tục giao con cho chị N nuôi dưỡng là có căn cứ. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết là phù hợp.

[4] Về tài sản các đương sự không đặt ra yêu cầu phân chia và nợ chung là không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 56; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh C. Cho anh Nguyễn Văn C được ly hôn với chị Huỳnh Thảo N.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Như Y, sinh ngày 21/10/2016 cho chị N tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Tài sản và nợ không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Án phí hôn nhân gia đình anh C phải chịu 300.000 đồng, anh dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0008184 ngày 04/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời nay được chuyển thu, anh C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.


100
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 145/2018/HNGĐ-ST ngày 06/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:145/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 06/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về