Bản án 144/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về ly hôn giữa ông T với bà H

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 144/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/11/2019 VỀ LY HÔN GIỮA ÔNG T VỚI BÀ H 

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 314/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2019 về việc: “Ly hôn giữa ông T với bà H” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2019/QĐXX-ST ngày 05 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965

Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964

Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Năm 1985, ông và bà Nguyễn Thị H đã tổ chức đám cưới. Trước khi kết hôn ông và bà H có được tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Lục Nam. Sau đám cưới bà H về nhà ông làm dâu ngay. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2012 thì nẩy sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Ông và bà H đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ tình cảm cũng như kinh tế từ năm 2012. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng giữa ông và bà H đã hết, không thể đoàn tụ gia đình được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với chị H.

Về con chung: Các con ông đã trưởng thành, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung đối với tài sản: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị H, nhưng bà H không cung cấp lời khai, không đến trụ sở Tòa án làm việc. Tại phiên tòa, bà H vẫn vắng mặt.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho ông T được ly hôn với bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông T, bà H tại phiên tòa bà H vắng mặt lần thứ hai, ông T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T kết hôn với bà Nguyễn Thị H trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Lục Nam ngày 30 tháng 11 năm 1985 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2012 thì nẩy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm. Ông T và bà H sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế đã lâu, ai sống thế nào thì mặc, không ai quan tâm đến ai. Xét mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa ông T và bà H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho ông T ly hôn bà H.

[3]. Về con chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[4]. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung đối với tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[6]. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn T ly hôn với bà Nguyễn Thị H.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0004064 ngày 07 tháng 6 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

3. Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự vắng mặt biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

73
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 144/2019/HNGĐ-ST ngày 28/11/2019 về ly hôn giữa ông T với bà H

Số hiệu:144/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Nam - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về