Bản án 142/2019/HS-ST ngày 17/09/2019 về tội cướp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 142/2019/HS-ST NGÀY 17/09/2019 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 9 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 143/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:170/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

1. Võ Hoài K, sinh năm: 1998, tại: An Giang; hộ khẩu thường trú: ấp T, thị trấn E, huyện S, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ họ tên và bà Hoàng Thị Ngọc T; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tam giam ngày: 21/12/2018; (Có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: Chổ ở: đường L, phường H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1966: Trú tại: đường G, phường H, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 12 giờ ngày 01/12/2018, anh Nguyễn Ngọc D cùng một người bạn tên Tuấn (chưa rõ lai lịch) đến phòng 202 khách sạn Hải Hà địa chỉ số 9 đường số 32, phường 17, quận Gò Vấp, gặp một người đàn ông tên Võ Hoài K và một người con gái tên Nguyễn Thị Tú Q để bàn việc môi giới lấy chồng Trung Quốc. Một lúc sau có thêm một người đàn ông bước vào phòng tự xưng tên Long, là chú của Q. Long hỏi anh D và Tuấn là giờ lấy chồng Trung Quốc thì tiền bạc tính như thế nào. Anh D nói là yêu cầu của người môi giới là phụ nữ phải là trên 21 tuổi, còn người cháu gái của Long chỉ mới 16 tuổi nên không được. Lúc này, Long tiến tới gần anh D dùng tay đánh vào mặt và đầu của anh D, Long cầm một cây kéo, K cầm một con dao yêu cầu anh D và Tuấn mỗi người phải đưa 75.000.000 đồng nếu không sẽ yêu cầu người nữ cởi quần áo, chụp hình và tố cáo D và Tuấn là hiếp dâm và buôn bán người qua Trung Quốc, anh D nói không có tiền, chỉ có 5.000.000 đồng nhưng Long không đồng ý. Lúc này Long khống chế buộc anh D lấy bóp ra đưa cho Long, khi anh D lấy bóp ra thì bị Long lấy hết số tiền 2.400.000 đồng, còn K lấy điện thoại di động Samsung A9 Pro của anh D đưa cho Long, Long đưa cho Q mang đi cầm, một lúc sau Long kêu K mang xe máy của anh D đi cầm, nhưng do xe không chính chủ tiệm cầm đồ không cầm. Lợi dụng lúc Long mất cảnh giác anh D đã bỏ chạy xuống sảnh khách sạn, lúc này Q và K cũng vừa về tới, Q đưa cho anh D biên nhận cầm cố điện thoại tại tiệm cầm đồ Văn Duyệt địa chỉ phường 17, quận Gò Vấp (số tiền cầm là 2.500.000 đồng), K trả lại xe và giấy tờ xe cho anh D. Đến ngày 02/12/2018 anh D mới đến Công an phường 17 Gò Vấp trình báo.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 07/12/2018 xác định khách thuê phòng 202 khách sạn Hải Hà vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 29/11/2018 là Võ Hoài K – 1998 thường trú: Ấp T, thị trấn E, huyện S, tỉnh An Giang.

Qua truy xét ngày 21/12/2018 Công an quận Gò Vấp mời Võ Hoài K đến làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp, Võ Hoài K khai nhận: Vào giữa tháng 11/2018 K có quen biết tên Tuấn (chưa rõ lai lịch) ở tiệm NET đường Hà Huy Giáp, quận 12. Khoảng 01 tuần sau thì Tuấn giới thiệu cho K và bạn gái tên Nguyễn Thị Tú Q gặp anh Nguyễn Ngọc D và nói là sẽ môi giới đưa Q qua Trung Quốc lấy chồng, nếu đồng ý thì D sẽ đưa cho Q và K số tiền 40.000.000 đồng, nhưng K không đồng ý. Sau nhiều lần hỏi K, nhưng K không đồng ý, đến ngày 30/11/2018 K và bạn gái tên Q đang thuê phòng 202 khách sạn Hải Hà, thì Tuấn và một người tên Long (không rõ lai lịch) cũng thuê phòng 203 khách sạn Hải Hà để ở qua đêm. Đến khoảng 12 giờ ngày 01/12/2018 thì Tuấn dẫn theo anh D vào phòng 202 khách sạn Hải Hà để gặp K và Q nói chuyện việc đi Trung Quốc lấy chồng thì xảy ra sự việc như trên. Sau khi cầm điện thoại di động của anh D được số tiền 2.500.000 đồng, Q đưa lại cho Long. Sau đó Tuấn và Long cho K và Q mỗi người 1.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã tiến hành dẫn Võ Hoài K đi xác định địa điểm tại phòng 202 khách sạn Hải Hà, đồng thời tiến hành cho anh Vũ Cao T là quản lý khách sạn Hải Hà nhận dạng Võ Hoài K chính là người thuê phòng 202 khách sạn Hải Hà từ ngày 30/11/2018 đến 17 giờ ngày 01/12/2018, anh T khai khi thấy ồn ào đi vào phòng thì thấy K nắm cổ áo anh D. Anh Vũ Cao T cũng xác nhận người thuê phòng 202 ngày hôm đó tên Võ Hoài K.

Qua điều tra truy xét xác định tên Tuấn có lai lịch là Phạm Văn Tuấn – 1975 thường trú: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang, và thu thập hình ảnh của Phạm Văn Tuấn tại phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Tiền Giang. Cơ quan CSĐT đã tiến hành lập biên bản nhận dạng cho Võ Hoài K và anh Nguyễn Ngọc D nhận dạng Phạm Văn Tuấn. Kết quả Võ Hoài K và anh Nguyễn Văn D nhận dạng được ảnh do Cơ quan CSĐT thu thập được chính là Phạm Văn Tuấn người có mặt tại phòng 202 khách sạn Hải Hà khi anh D bị cướp tài sản. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đang tiếp tục thu thập chứng cứ phạm tội của Phạm Văn Tuấn để xử lý sau. Riêng đối tượng tên Long và Q Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, khi nào xác định được sẽ làm rõ xử lý sau.

Ngày 04/4/2019, anh Nguyễn Ngọc D đã làm đơn bãi nại gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra để đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị can K và những người đã chiếm đoạt tài sản của anh D.

Tang vật thu giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu SamSung A9 Pro. Tại bản kết luận định giá tài sản số:

82/KL ngày 26/3/20189 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận kết luận chiếc điện thoại có giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 3.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã xử lý vật chứng trao trả chiếc điện thoại di động hiệu SamSung A9 Pro cho anh Nguyễn Ngọc D.

Tại bản cáo trạng số 140/CTr-VKS ngày 14/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Võ Hoài K theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên toà Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Võ Hoài K từ 07 năm đến 08 năm tù.

Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự không có.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Võ Hoài K đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Võ Hoài K đã phạm vào tội “Cướp tài sản” của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có được tiền để tiêu xài và phục vụ cho những nhu cầu cá nhân. Xét thấy bị cáo đã dùng dao để uy hiếp người bị hại làm cho bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đã thể hiện ý chí quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội và thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Nên cần thiết phải có khoảng thời gian dài cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm giúp bị cáo cải tạo tốt hơn, sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản, tính mạng sức khỏe của người khác, đồng thời cũng nhằm tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Do bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm để thực hiện hành vi cướp tài sản, nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo Võ Hoài K theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay bị hại anh Nguyễn Ngọc D vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện anh đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại Samsung A9 Pro hiện không còn thắc mắc hay khiếu nại gì nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại. Đối với số tiền 2.400.000 đồng anh D bị chiếm đoạt anh không yêu cầu bị cáo trả lại, Hội đồng xét thấy đây là ý chí tự nguyện không trái pháp luật nên ghi nhận.

Đi với số tiền 2.500.000 đồng ông Nguyễn Hữu T cầm nhầm tài sản chiếm đoạt của Nguyễn Thị Tú Q, tại phiên tòa hôm nay ông T vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện ông không yêu cầu trả lại cam kết không thắc mắc khiếu nại về sau. Hội đồng xét xử xét thấy đây là ý chí tự nguyện và không trái pháp luật nên ghi nhận.

Đi với số tiền 1.000.000 đồng bị cáo có được từ việc cầm điện thoại của anh D là tiền thu lợi bất chính, Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ nhà nước.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu SamSung A9 Pro Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đã xử lý vật chứng trao trả chiếc điện thoại di động hiệu SamSung A9 Pro cho anh Nguyễn Ngọc D. Xét thấy các tài sản trên có nguồn gốc rõ ràng việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Đi với ông Nguyễn Hữu T khi cầm điện thoại không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không đủ căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Võ Hoài K phạm tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Võ Hoài K 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/12/2018.

Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 và khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Buộc bị cáo nộp lại 1.000.000 (một triệu) đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 142/2019/HS-ST ngày 17/09/2019 về tội cướp tài sản

Số hiệu:142/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về