Bản án 142/2018/DS-ST ngày 22/08/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 142/2018/DS-ST NGÀY 22/08/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 22 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 146/2018/TLST-DS ngày 04 tháng 5 năm 2018 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149A/2018/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà ĐINH THỊ H, sinh năm 1966 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Chị NGÔ THỊ KIỀU O, sinh năm 1982 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 03/5/2017 và lời khai tại Toà, nguyên đơn bà Đinh Thị H trình bày:

Chị O (trong danh sách hụi ghi tên M) có tham gia một dây hụi do bà H làm đầu thảo. Cụ thể: Dây hụi 20.000.000đ, mở ngày 09/5/2016 âm lịch, một tháng mở hụi một kỳ, có 27 phần, chị O tham gia một phần, hụi mãn vào ngày 09/6/2018 âm lịch. Tại kỳ khui hụi thứ bảy, chị O trúng thăm hốt hụi số tiền 435.000.000đ. Sau khi hốt hụi thì chị O đóng hụi chết tháng 3/2017 âm lịch thì ngưng. Nay các kỳ hụi đều đã đến hạn số tiền là 280.000.000đ. Nay bà yêu cầu chị O phải có trách nhiệm trả một lần số tiền 280.000.000đ tại các kỳ hụi đã đến hạn ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên toà, bị đơn chị O vắng mặt không lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần hai.

Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và của các đương sự chấp hành đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự. Hiện tại thì chưa phát hiện sai sót gì để kiến nghị khắc phục. Về nội dung: Xét thấy, tại phiên toà nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi tổng cộng 280.000.000đ ở các kỳ hụi đã đến hạn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Ngô Thị Kiều O vắng mặt không lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần hai. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị O.

Về nội dung:

[2] Căn cứ vào lời trình bày của đương sự tại Toà, nguyên đơn bà H khẳng định bị đơn chị O là người trực tiếp đứng ra chơi hụi do bà làm đầu thảo. Cụ thể, chị O đã tham gia dây hụi mở ngày 09/5/2016 âm lịch, hụi gồm 27 phần, chị tham gia một phần, mỗi phần 20.000.000đ, 01 tháng mở một kỳ, đến tháng 6/2018 âm lịch thì mãn hụi. Đến kỳ khui hụi thứ 7 (nhằm ngày 09/11/2016 âm lịch) thì chị trúng thăm hốt hụi số tiền 435.000.000đ. Khi nhận tiền, chị O có ký tên vào tờ giấy hụi và đóng hụi chết đến tháng 3/2017 âm lịch thì ngưng. Tính đến nay, chị O không đóng hụi chết cho nguyên đơn 14 kỳ tổng số tiền 280.000.000đ. Đồng thời, căn cứ vào lời khai của các hụi viên trong dây hụi mà chị O tham gia thì họ cũng xác định chị O có tham gia dây hụi nêu trên do nguyên đơn làm đầu thảo và đã hốt hụi chết. Do đó, xác định hợp đồng góp hụi giữa các bên thực tế đã phát sinh theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự. Mặt khác, trong quá trình thụ lý vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho bị đơn để đảm bảo quyền nêu ý kiến, cũng như hoà giải để các bên có điều kiện thương lượng, thoả thuận vấn đề tranh chấp nhưng bị đơn vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, bị đơn cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện bị đơn đã không phản bác đối với việc khởi kiện của nguyên đơn. Cho nên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H là có căn cứ để chấp nhận và Toà án có đủ cơ sở buộc bị đơn chị O chịu trách nhiệm trả số tiền hụi đã đến hạn tổng cộng 280.000.000đ cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[4] Xét ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 471, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị H.

Buộc chị Ngô Thị Kiều O phải có trách nhiệm trả cho bà Đinh Thị H số tiền hụi tổng cộng là 280.000.000đ.

Kể từ ngày bà Đinh Thị H có đơn yêu cầu thi hành án nếu chị Ngô Thị Kiều O chậm thi hành đối với phần tiền thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về án phí: Chị Ngô Thị Kiều O phải chịu 14.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Đinh Thị H số tiền 7.000.000đ tạm ứng án phí theo biên lai số 08615 ngày 04/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 142/2018/DS-ST ngày 22/08/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:142/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Bè - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về