Bản án 14/2021/HNGĐ-ST ngày 27/01/2021 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 14/2021/HNGĐ-ST NGÀY 27/01/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 27 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh B ; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 497/2020/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 11 năm 2020, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 12 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 14/01/2021 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Đỗ Thị T , sinh năm: 1984 Nơi cư trú: số 5, số đường 73, thôn 6, xã V, huyện Đức Linh, tỉnh B .

2. Bị đơn: Nguyễn Quốc H , sinh năm: 1983 Nơi cư trú: số 5, số đường 73, thôn 6, xã V, huyện Đức Linh, tỉnh B

Tại phiên tòa: nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 15/01/2021, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 27/01/2021

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 18/8/2020, biên bản tự khai, biên bản hòa giải và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn Đỗ Thị T trình bày: Chị và anh H tự nguyện tìm hiểu được 2 năm thì đi đến kết hôn, anh chị có đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại UBND xã Vũ Hòa. Sau khi kết hôn thì về nhà cha mẹ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xẩy ra muẫn thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H T ờng xuyên uống rượu, chơi bài bạc, nghi ngờ chị quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Ngoài ra anh H còn đi nói xấu chị với rất nhiều người về chị. Khi xẩy ra mâu thuẫn thì anh chị tự hòa giải. Hiện nay anh chị đã ly thân từ tháng 10/2020. Khi ly thân thì chị về nhà mẹ chị, còn anh H vẫn sống tại nhà của vợ chồng. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh H , chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn.

Theo bản tự khai, biên bản hòa giải có trong hồ sơ bị đơn Nguyễn Quốc H trình bày: Qúa trình tìm hiểu và đi đến kết hôn thì chị T trình bày hoàn toàn đúng, còn nguyên nhân mâu thuẫn thì hoàn toàn sai. Theo anh, nguyên nhân mâu thuẫn thì anh thừa nhận là khi chị T làm đơn khởi kiện ly hôn thì anh có đi nói xấu chị T , nhưng sau khi nói xấu chị T thì anh đã xin lỗi chị T . Nay chị T khởi kiện ly hôn thì anh không đồng ý.

-Về con chung, tài sản chung và nợ chung: anh chị tự thỏa thuận giải quyết.

-Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử và của các đương sự: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ, xác định đúng quan hệ pháp luật, lập và gửi các văn bản đúng quy định. Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng trình tự luật định. Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng pháp luật. Vì vậy mà HĐXX, xét xử vắng mặt, nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.

-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Vì vậy Hội đồng xét xử nên cho ly hôn.

-Về con chung, tài sản chung và nợ chung: anh chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ và kết quả xác minh của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 18/8/2020 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh B theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Đỗ Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 15/01/2021, anh Nguyễn Quốc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 27/01/2021. Hội đồng xét xử xét thấy rằng nội dung và hình thức của đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.

[4]Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Đỗ Thị T và anh Nguyễn Quốc H có đăng ký kết hôn vào ngày 06/12/2004 tại UBND xã Vũ Hòa. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh.

Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2020 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là anh chị tính tình không hợp, T ờng xuyên cãi vã, không tin tưởng lẫn nhau làm cho tình cảm vợ chồng sứt mẻ. Thấy rằng, lời khai của anh chị là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh H nữa và cương quyết ly hôn. Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ nhưng không thành, cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình.

[5] -Về con chung, tài sản chung và nợ chung: anh chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết trong vụ án này.

[6]Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban T ờng vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị T là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.

[7] Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, T ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp vợi nội dung vụ án.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Áp dụng Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban T ờng vụ Quốc Hội, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Đỗ Thị T :

1/Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị T ly hôn anh Nguyễn Quốc H

2/Về án phí DSST: Chị Đỗ Thị T phải chịu 300.000đồng án phí DSST, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0004096 ngày 23/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị T đã nộp đủ án phí DSST.

3/ Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

4/ Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2021/HNGĐ-ST ngày 27/01/2021 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:14/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Linh - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về