Bản án 14/2019/HS-ST ngày 22/03/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 14/2019/HS-ST NGÀY 22/03/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong các ngày 21 và 22 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2019/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn Th- Sinh năm 1991, tại xã TĐ, huyện TN, tỉnh NĐ; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm 19 xã TĐ, huyện TN, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Th - Sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị M - Sinh năm 1969; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2018 đến ngày 10/01/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo Quyết định cho bảo lĩnh số: 04 ngày 10/01/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy.

2. Phạm Xuân Qu- Sinh năm 1993 tại xã MT, huyện ML, tỉnh NĐ; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn Đa Mễ xã MT, huyện ML, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hồng M - Sinh năm 1970 và bà Trần Thị C - Sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2018 đến ngày 10/01/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo Quyết định cho bảo lĩnh số: 06 ngày 10/01/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy.

3. Trịnh Văn Ch- Sinh năm 1989, tại xã TH, huyện TL, tỉnh HN; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn CX xã xã TH, huyện TL, tỉnh HN; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn Đ - Sinh năm 1958 và bà Đinh Thị Kh - Sinh năm 1958; Vợ là: Đinh Thị L - sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2018 đến ngày 06/12/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 06 ngày 06/12/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy.

4. Đỗ Tiến M- Sinh năm 1991, tại xã MT, huyện ML, tỉnh NĐ; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm HP xã MT, huyện ML, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Viết H - Sinh năm 1962 và bà Đào Thị Th -Sinh năm 1968; Vợ là: Trần Thu Tr- sinh năm 1994; Có 01 con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2018 đến ngày 10/01/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo quyết định cho bảo lĩnh số: 05 ngày 10/01/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy.

5. Nguyễn Văn T- Sinh năm 1990, tại xã NP, thành phố NĐ, tỉnh NĐ; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm MT 2 thôn PL, xã NP, thành phố NĐ, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M- Sinh năm 1965 và bà Phạm Thị Mây - Sinh năm 1967; Vợ là Nguyễn Thị D - Sinh năm 1996; Có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2018 đến ngày 06/12/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 05 ngày 06/12/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy.

6. Trần Song Đ - Sinh năm 1977, tại xã MH, huyện ML, tỉnh NĐ; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm 7 xã MH, huyện ML, tỉnh NĐ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Song Th - Sinh năm 1951 và bà Trần Thị C - Sinh năm 1953; Vợ là Trần Thị Ng - Sinh năm 1981; Có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2018 đến ngày 06/12/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, bị cáo hiện tại ngoại tại địa phương theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 07 ngày 06/12/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy.

- Người làm chứng:

1. Anh Trần Trung Th; sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ dân phố TL, thị trấn ML, huyện ML, tỉnh NĐ.

2. Anh Nguyễn Văn Th; Sinh năm 1978; địa chỉ: Xóm 6A, xã HT, huyện HH, tỉnh NĐ.

3. Anh Trần Ngọc H; sinh năm 1989; địa chỉ: Số 05,TTT, phường LV, thành phố NĐ, tỉnh NĐ.

4. Anh Vũ Văn L; sinh năm 1977; địa chỉ: Số 4/1 ngõ 66, đường THL, phường TĐN, thành phố NĐ, tỉnh NĐ.

5. Anh Lê Văn Ph; sinh năm 1969; địa chỉ: Số 186, đường 10, xã MT, huyện ML, tỉnh NĐ.

6. Anh Vũ Văn D; sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn AH, xã ĐA, huyện VB, tỉnh NĐ.

7. Anh Đỗ Công L; sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn ĐL, xã LB, huyện VB, tỉnh NĐ.

8. Anh Phạm Ngọc Ch; sinh năm 1983. Địa chỉ: Xóm ĐMĐ, xã MT, huyện ML, tỉnh NĐ.

9. Chị Trần Thị L1; sinh năm 1963.

10. Ông Trần Văn Ch; sinh năm 1956.

Đều có địa chỉ: Tổ dân phố 1, thị trấn NĐ, huyện GT, tỉnh NĐ.

Tại phiên tòa: 06 bị cáo có mặt; người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trưa ngày 30/11/2018, Trần Văn Th, Phạm Xuân Qu, Trần Song Đ, Đỗ Tiến M, Trần Thành Tr, Lê Văn Ph, Nguyễn Văn T, Vũ Văn L, Trần Ngọc H, Trịnh Văn Ch, Nguyễn Văn Th, Vũ Văn D, Đỗ Công L đến ăn cơm trưa tại quán cơm nhà chị Trần Thị L ở tổ dân phố 1, thị trấn Ngô Đồng, huyện Giao Thủy. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Th, Liệu, H, Th lên tầng 2 nhà chị L để nghỉ ngơi. Thấy có sẵn bộ bài tú lơ khơ, Th, L, H, Th thống nhất đánh “Lốc” ăn tiền. Khoảng 15 phút sau, Lê Văn Ph lên cùng cả bọn thống nhất chuyển sang đánh “Liêng” ăn tiền với mức độ góp gà 10.000 đồng, tố cao nhất 100.000 đồng. Sau đó, lần lượt Vũ Văn D và Đỗ Công L lên cùng tham gia chơi đánh “Liêng” ăn tiền. Trong lúc các đối tượng đang đánh bài ăn tiền thì Trần Văn Th, Trịnh Văn Ch, Đỗ Tiến M, Nguyễn Văn Tcùng lên tầng 2 để nghỉ ngơi, thấy có sẵn 01 bộ bài tú lơ khơ trên giường nên Th, M, T, Trịnh Văn Chrủ nhau đánh “Ba cây” ăn tiền với mức đặt cửa 20.000 đồng/ván. Sau đó, Quý, Đức và Phạm Ngọc Ch lần lượt lên. Đức và Quý tham gia đánh “Ba cây” ăn tiền cùng các đối tượng, còn Phạm Ngọc Chđứng xem. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, trong lúc các đối tượng đang đánh bài ăn tiền thì bị lực lượng tuần tra Công an huyện Giao Thủy tuần tra phát hiện lập biên bản bắt người có hành vi phạm pháp quả tang. Thu tại chiếu bạc đánh “Liêng” gồn các đối tượng: Trần Trung Th, Vũ Văn L, Trần Ngọc H, Nguyễn Văn Th, Lê Văn Ph, Vũ Văn D và Đỗ Công L số tiền 4.330.000 đồng; Thu tại chiếu đánh “Ba cây” gồm các đối tượng: Trần Văn Th, Trịnh Văn Ch, Đỗ Tiến M, Nguyễn Văn T, Phạm Xuân Quvà Trần Song Đ số tiền 5.100.000 đồng; thu trên người các đối tượng đánh “Liêng” số tiền 82.830.000 đồng; thu trên người các đối tượng đánh “Ba câ”y số tiền 5.070.000 đồng và 02 bộ bài tú lơ khơ (01 bộ bài 36 quân và 01 bộ bài 52 quân) + 14 điện thoại di động các loại, 02 xe máy, 04 ô tô tải và 02 chiếc chiếu đưa về Công an huyện Giao Thủy.

Nhóm đánh ba cây: Trần Văn Th khai nhận khi đi mang theo 2.500.000 đồng dùng để đánh bạc, khi bị bắt thu trên người còn 1.510.000 đồng; Phạm Xuân Qu khai mang theo 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt thu trên người còn 2.920.000 đồng; Nguyễn Văn T khai mang theo 740.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt đã thua hết; Trịnh Văn Ch khai mang theo 1.030.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt thu trên người còn 30.000 đồng; Đỗ Tiến M khai mang theo 970.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt thu trên người còn 510.000 đồng; Trần Song Đ khai mang theo 200.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt thu trên người còn100.000 đồng;

Nhóm đánh Liêng: Trần Trung Th khai mang theo 300.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, khi bị bắt đang thắng và thu trên người 310.000 đồng dùng để đánh bạc; Nguyễn Văn Th sử dụng hơn 300.000 đồng và đã thua hết, khi bị bắt thu trên người 59.000.000 đồng, là tiền hàng của công ty không sử dụng vào việc đánh bạc; Trần Ngọc H khai sử dụng 300.000 đồng vào việc đánh bạc và đã thua hết, khi bị bắt thu trên người 18.700.000 đồng, là tiền hàng của công ty không sử dụng vào việc đánh bạc; Vũ Văn L khai mang theo 1.300.000 đồng và sử dụng 300.000 đồng vào việc đánh bạc, đã thua hết, khi bị bắt thu trên người 1.000.000 đồng, không sử dụng vào việc đánh bạc; Lê Văn Ph khai có 100.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc khi bị bắt thua hết; Vũ Văn D khai mang theo 4.000.000 đồng và sử dụng 180.000 đồng vào việc đánh bạc, khi bị bắt bỏ hết xuống chiếu bạc, thu trên người 3.820.000 đồng, là tiền hàng không sử dụng vào việc đánh bạc; Đỗ Công L khai có 150.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc khi bị bắt đã thua hết;

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 20/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố các bị cáo Trần Văn Th, Phạm Xuân Qu, Trịnh Văn Ch, Đỗ Tiến M, Nguyễn Văn T và Trần Song Đ về tội: “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đại diện VKSND huyện Giao Thủy giữ quyền công tố luận tội và tranh luận xác định hành vi của các bị cáo Trần Văn Th, Phạm Xuân Qu, Trịnh Văn Ch, Đỗ Tiến M, Nguyễn Văn T và Trần Song Đ đã sử dụng tổng số tiền 10.170.000 đồng vào việc đánh bạc (đánh 3 cây ăn tiền) nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Vì vậy đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Văn Th, Phạm Xuân Qu, Trịnh Văn Ch, Đỗ Tiến M, Nguyễn Văn T và Trần Song Đ phạm tội “Đánh bạc”. Về hình phạt áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn Thvà bị cáo Phạm Xuân Qu mỗi bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, xử phạt các bị cáo Trịnh Văn Ch , Đỗ Tiến M , Nguyễn Văn T và Trần Song Đ mỗi bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và điều kiện thu nhập của các bị cáo. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho cả 6 bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 14.810.000 đồng (Mười bốn triệu, tám trăm mười nghìn đồng)

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bộ bài lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng; 01 bộ bài bài lơ khơ 36 quân; 02 chiếu đã cũ (đều đã qua sử dụng).

Trong lời nói sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xin được cải tạo tại địa phương và xin miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 13 giờ ngày 30/11/2018, Trần Văn Th, Phạm Xuân Qu, Trịnh Văn Ch, Đỗ Tiến M, Nguyễn Văn T và Trần Song Đ sau khi ăn trưa tại quán cơm nhà chị Trần Thị L ở tổ dân phố 1, thị trấn NĐ, huyện GT, các bị cáo đã cùng nhau đánh bạc ăn tiền, hình thức đánh “Ba cây” đến 14 giờ 15 phút cùng ngày thì bị lực lượng tuần tra Công an huyện Giao Thủy phát hiện bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.100.000 đồng, thu trên người các bị cáo số tiền 5.070.000 đồng các bị cáo khai nhận sử dụng vào việc đánh bạc. Hành vi đánh bạc dưới hình thức “Ba cây” ăn tiền, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 10.170.000 đồng của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng xấu tới trật tự an ninh, trật tự xã hội. Cờ bạc là tệ nạn của xã hội, các bị cáo đều xác định được đánh bạc dưới hình thức đánh “Ba cây” ăn tiền là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo cố ý thực hiện hành vi của mình, sát phạt nhau để thu lời bất chính. Do vậy cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với từng hành vi của mỗi bị cáo nhằm trừng trị giáo dục riêng đối với các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[4] Xét vị trí, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án để đưa ra mức hình phạt phù hợp.

Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan CSĐT và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có đơn trình bày điều kiện gia đình khó khăn được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đồng phạm về tội đánh bạc giữ vai trò ngang nhau, căn cứ vào lượng tiền, thời gian đánh bạc của từng bị cáo, thì vị trí của từng bị cáo xếp lần lượt như sau Trần Văn Th, Phạm Xuân Qu, Trịnh Văn Ch, Đỗ Tiến M, Nguyễn Văn T và Trần Song Đ để áp dụng hình phạt cho phù hợp.

Từ những phân tích trên HĐXX xét thấy tất cả các bị cáo trong vụ án đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, có hướng tự cải tạo. Vì vậy không nhất thiết buộc các bị cáo phải tập trung cải tạo, mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo như quan điểm đề xuất của Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo điều kiện gia đình khó khăn. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:14.810.000 đồng (Mười bốn triệu, tám trăm mười nghìn đồng) tiền sử dụng đánh bạc, trong đó thu ở chiếu bạc đánh “Ba cây” là 5.100.000 đồng, chiếu bạc đánh “Liêng” là 4.330.000 đồng thu trên người các bị cáo đánh “Ba cây” là 5.070.000 đồng, đối tượng đánh “Liêng” là 310.000 đồng.

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 bộ bài lơ khơ 52 quân; 01 bộ bài bài lơ khơ 36 quân; 02 chiếc chiếu (đều đã qua sử dụng).

- Đối với 14 chiếc điện thoại di động, 02 xe máy và 04 ô tô tải, Cơ quan điều tra đã thu giữ. Quá trình điều tra xác định đó là những tài sản không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các đối tượng là phù hợp.

- Đối với số tiền 82.830.000 đồng, Cơ quan điều tra thu giữ trên người các đối tượng đánh “Liêng”, quá trình điều tra xác định trong đó có 82.520.000 đồng là tiền các đối tượng không sử dụng để đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho các đối tượng là phù hợp.

Đối với các đối tượng đánh “Liêng”: gồm: Trần Trung Thanh, Vũ Văn L, Trần Ngọc H, Nguyễn Văn Th, Lê Văn Ph, Vũ Văn D và Đỗ Công L. Quá trình điều tra xét thấy hành vi của Th, L, H, Th, Ph, D và L chưa đến mức phải xử lý về hình sự nên Công an huyện Giao Thủy đã xử phạt hành Chlà phù hợp.

Đối với chị Trần Thị L và anh Phạm Ngọc C, quá trình điều tra xác định khi các đối tượng đánh bạc trên tầng 2 quán cơm nhà chị L, chị L không biết. Anh Chlà người đứng xem, không tham gia chơi đánh bạc nên không đặt ra vấn đề xử lý đối với chị L và anh Ch là phù hợp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn Th, Phạm Xuân Qu, Trịnh Văn Ch, Đỗ Tiến M, Nguyễn Văn T và Trần Song Đ phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

+ Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Th12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án (đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2018 đến ngày 10/01/2019).

+ Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân Qu12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án (đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2018 đến ngày 10/01/2019).

+ Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn Ch09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (đã bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2018 đến ngày 06/12/2018).

+ Xử phạt: Bị cáo Đỗ Tiến M09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2018 đến ngày 10/01/2019).

+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (đã bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2018 đến ngày 06/12/2018).

+ Xử phạt: Bị cáo Trần Song Đ 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án (đã bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2018 đến ngày 06/12/2018).

Giao bị cáo Trần Văn Thcho UBND xã TĐ, huyện TN, tỉnh NĐ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Phạm Xuân Qu cho UBND xã MT, huyện ML, tỉnh NĐ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Trần Văn Ch cho UBND xã TH, huyện TL, tỉnh HN giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Đỗ Tiến M cho UBND xã MT, huyện ML, tỉnh NĐ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã NP, thành phố NĐ, tỉnh NĐ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; giao bị cáo Trần Song Đ cho UBND xã MH, huyện ML, tỉnh NĐ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 14.810.000 đồng (Mười bốn triệu, tám trăm mười nghìn đồng)

- Tịch thu cho tiêu hủy: 02 bộ tú lơ khơ và 02 chiếc chiếu.

(Được ghi chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 21/02/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Trần Văn Th, Phạm Xuân Qu, Trịnh Văn Ch, Đỗ Tiến M, Nguyễn Văn Tvà Trần Song Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/HS-ST ngày 22/03/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:14/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về