Bản án 14/2018/HS-ST ngày 10/04/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 14/2018/HS-ST NGÀY 10/04/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 4 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Núi Thành. Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Hải D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/6/1985. HKTT + chỗ ở: Hòa A - Tam G - Núi Thành - Quảng Nam.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Ngư nghiệp; Trình độ văn hoá: 06/12. Con ông: Lương Nh , sinh năm: 1955 và bà Ngô Thị T, sinh năm: 1960.

Bị cáo có vợ tên là Đinh Thị L, sinh năm: 1983 và 02 con, con lớn nhất sinh năm: 2009, con nhỏ nhất sinh năm: 2012.

Tiền án, Tiền sự:  Chưa

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” từ ngày 03/01/2018 đến ngày 05/01/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn: “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Ông Lương Ngọc Tr, sinh năm: 1960, trú tại: thôn Thuận A, xã Tam G, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Ngô Thị Thanh Ph, sinh năm: 1976, trú tại: thôn Hòa A, xã Tam G, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

- Ông Lê Văn Á, sinh năm: 1974, trú tại: thôn Hòa A, xã Tam G, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 03/01/2018, Lương Hải D được vợ mình là Đinh Thị L, sinh năm 1983, trú tại thôn Hòa A, xã Tam G, huyện Núi Thành đưa cho số tiền 7.800.000 đồng để đi trả nợ cho nhiều người trong xã (vì D đang làm nhà nên có nợ nhiều người tiền mua vật liệu để làm nhà). D cầm tiền và điều khiển xe mô tô BKS: 92F3-3674 (xe này do Lương Hải L là anh ruột D đứng tên chủ sở hữu) đến nhà ông Lương Ngọc Tr, sinh năm: 1960 để trả nợ cho ông Trước. D đến nhà ông Tr vào khoảng 09 giờ cùng ngày, khi D và ông Tr đang ngồi nói chuyện thì có bà Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1992, trú cùng thôn (là con dâu ông Tr) đến trả nợ cho ông Tr số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền từ bà Th, ông Tr cất số tiền lên đầu tủ. Một lúc sau, ông Tr có nhờ D lấy giúp cuốn sổ ghi nợ. D đi lại tủ và lấy cuốn sổ nợ của ông Tr, trong lúc D thấy ông Tr không để ý nên đã lấy số tiền 50.000.000 đồng của ông Tr đang để trên đầu tủ rồi lận vào lưng quần của mình. Sau khi lấy được tiền thì D cầm cuốn sổ nợ lại đưa cho ông Tr. Ông Tr tính nợ xong thì D lấy tiền trả cho ông trước 1.500.000 đồng rồi ra về.

Trên đường đi về, D lấy ra số tiền 32.500.000 đồng trong số tiền đã trộm cắp được cất giấu tại khu vực bãi đất trống thuộc thôn Hòa A, xã Tam G, huyện Núi Thành. Số tiền còn lại D mang trả nợ cho bà Ngô Thị Thanh Ph, sinh năm 1976, trú thôn Hòa A, xã Tam G, huyện Núi Thành số tiền 8.000.000 đồng; trả cho ông Lê Văn Á, sinh năm 1974, trú cùng thôn số tiền 3.840.000 đồng, số tiền còn lại thì D đem về nhà cất giấu.

Sau khi biết tin ông Tr đến nhà tìm và đã báo Công an thì D đến đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, giao nộp số tiền còn lại và cùng với Cơ quan điều tra kiểm tra và thu giữ số tiền 32.500.000 đồng mà D cất giấu trước đó.

Về vật chứng vụ án: Toàn bộ vật chứng đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành đã trả cho chủ sở hữu.

Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKS ngày 08/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Lương Hải D về tội "Trộm cắp tài sản"  theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Hải D từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng .

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Lương Hải D khai nhận: Vào khoảng 09 giờ ngày 03/01/2018, tại nhà ông Lương Ngọc Tr thuộc thôn Hòa A, xã Tam G, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Lương Hải D đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 50.000.000 đồng của ông Lương Ngọc Tr.

[3] Xét lời khai nhận của bị cáo Lương Hải D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên toà, do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lương Hải D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm một cách bất hợp pháp đều bị pháp luật nghiêm trị. Bị cáo có đủ năng lực hành vi để nhận biết điều đó nhưng do nảy sinh lòng tham lợi dụng lúc sơ hở của người bị hại và muốn có tiền tiêu xài mà không cần bỏ sức lao động nên đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại ông Lương Ngọc Tr. Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện.

[5] Xét về nhân thân của bị cáo: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã biết ăn năn, hối cãi, khai báo thành khẩn. Bị cáo phạm tội lần đầu, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; Gia đình bị cáo có công cách mạng; Người bị hại có đơn bãi nại. Do vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên áp dụng điểm h, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ khi quyết định hình phạt cho bị cáo là phù hợp với tính nhân đạo pháp luật xã hội chủ nghĩa, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định là phù hợp. Đồng thời xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục cũng đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại toàn bộ số tiền bị mất và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ vật chứng đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành đã trả cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; các điểm h, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội;

Tuyên bố bị cáo Lương Hải D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Lương Hải D 18 ( mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 ( ba mươi sáu) tháng kể ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 10/4/2018.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Tam G, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về án phí: bị cáo Lương Hải D phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.


68
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2018/HS-ST ngày 10/04/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:14/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Núi Thành - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về