Bản án 14/2018/HNGĐ-ST ngày 28/05/2018 về hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH - TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 14/2018/HNGĐ-ST NGÀY 28/05/2018 VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 28 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2017/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2018 về việc “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐST ngày 14 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Thu H - Sinh năm 1991.

Nơi ĐKNKTT: Khu 7, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Khu 7, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T - Sinh năm 1987.

Địa chỉ: Khu 7, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Chị Hương, anh Thắng có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, tại bản tự khai và lời khai tiếp theo tại Tòa án, chị Bùi Thị Thu H trình bày: Chị và anh Nguyễn Đức T đăng ký kết hôn ngày 30/11/2016 tại UBND xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tự nguyện tìm hiểu, không bị ép buộc. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến tháng 9/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T thường chửi rủa thậm chí đánh đuổi chị. Gần đây nhất là ngày 10/3/2018 anh T đã đánh và đuổi chị ra khỏi nhà, vợ chồng cũng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Phía bị đơn là anh Nguyễn Đức T trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn và quá trình vợ chồng chung sống, như chị H trình bày là đúng. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến cãi chửi nhau. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng cũng đã được chính quyền địa phương đến hòa giải nhưng không thành. Từ ngày 10/3/2018 chị H đã bỏ nhà đi, vợ chồng cũng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn và xin được đoàn tụ.

Về con chung: Hai bên xác nhận có một con chung là Nguyễn Bùi Bảo T1 - sinh ngày 23/8/2017, hiện cháu T1 đang ở cùng chị H. Khi ly hôn cả chị H và anh T đều xin được nuôi con, chị H yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị theo quy định của pháp luật còn anh T không yêu cầu chị Hương phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình: Hai bên đều xác nhận không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến nhận xét Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; người tham gia tố tụng dân sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị H được ly hôn anh T; giao cho chị H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Bùi Bảo T1 - sinh ngày 23/8/2017, anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H theo quy định của pháp luật; về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình do hai bên đều xác nhận không có nên không xem xét giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

{1} Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Đức T là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tìm hiểu và tự nguyện. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn sau đó phát sinh mâu thuẫn. Cả chị H và anh T đều thừa nhận nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi chửi nhau và cũng đã được chính quyền địa phương đến hòa giải nhưng không thành. Tuy nhiên anh T xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn và xin được đoàn tụ. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải giữa các bên nhưng phía chị H vẫn kiên quyết xin được ly hôn. Qua xác minh tại địa phương, thấy rằng chị H và anh T trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng hiện đã sống ly thân. Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị H và anh T mâu thuẫn rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được do vậy cần xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

{2} Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Bùi Bảo T1 - sinh ngày 23/8/2017, hiện cháu T1 đang ở cùng chị H. Khi ly hôn cả chị H và anh Thắng đều xin được nuôi con, chị H yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị theo quy định của pháp luật còn anh T không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng.

Xét thấy, nguyện vọng xin được nuôi con của cả hai đều chính đáng tuy nhiên hiện cháu T mới được 09 tháng tuổi nên cần có sự chăm sóc của người mẹ và cũng phù hợp với quy định tại khoản 3 điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu cần giao cháu T1 cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về mức cấp dưỡng: Chị H yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị theo quy định của pháp luật. Vì vậy, cần buộc anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng 700.000 đồng, kể từ tháng 6/2018 đến khi cháu T thành niên là phù hợp.

{3} Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp gia đình: Hai bên đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

{4} Về án phí: Cần buộc các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

1. Xử: Cho chị Bùi Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Đức T.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Bùi Bảo T1 - sinh ngày 23/8/2017 cho chị Bùi Thị Thu H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Đức T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng), kể từ tháng 6/2018 đến khi cháu T1 thành niên.

Không ai được ngăn cản quyền thăm nom con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gia đình: Hai bên đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và các điều 11, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Bùi Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000785 ngày 20/3/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh); Anh Nguyễn Đức T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.


103
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2018/HNGĐ-ST ngày 28/05/2018 về hôn nhân và gia đình

Số hiệu:14/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phù Ninh - Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về