Bản án 14/2017/HNGĐ-ST ngày 06/09/2017 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 14/2017/HNGĐ-ST NGÀY 04/09/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 06 tháng 09 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 132/2017/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 04 năm 2017 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2017/QĐXXST- HNGĐ, ngày 23 tháng 08 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đinh Thị V, sinh năm 1963 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Số nhà 55, đường T, phố Đ, phường Kh, thành phố B, tỉnh B.

Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng C, sinh năm 1957 (Đề nghị được xử vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Số nhà 55, đường T, phố Đ, phường Kh, thành phố B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, ngày 20 tháng   04 năm 2017; bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn bà Đinh Thị V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Trọng C cụ thể như sau: Bà V xây dựng gia đình với ông C năm 1983, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, nay là phường Th, thành phố B, tỉnh B. Trong quá trình chung sống vợ chồng bà luôn xảy ra cãi vã đánh, chửi nhau, ông C là người gia trưởng luôn coi thường, hành hạ, xúc phạm bà V cả thể xác lẫn tinh thần, không giúp đỡ vợ lúc ốm đau, tìm mọi cơ hội chiếm đoạt, bán rẻ tài sản chung để phục vụ ăn tiêu riêng, nhiều lần ông C đánh bà V phải đi viện, bà V đã nhờ chính quyền đến can thiệp nhưng ông C vẫn xúc phạm, đánh đập bà V, phá tài sản, vất quần áo, giường chiếu của bà V ra ngoài đường. Trong gia đình bà V không có quyền hành gì vì thế bà V phải sống ly thân với ông C. Năm 2009, bà V đã có đơn ly hôn ông C nhưng bị Tòa bác đơn xin ly hôn, từ đó đến nay, vợ chồng bà vẫn sống ly thân, không ai quan tâm gì đến nhau. Bà V không chịu được cảnh hành hạ, đánh đập, lăng nhục của ông C và xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà V đề nghị được ly hôn với ông C.

Việc nuôi con, bà V và ông C có ba con chung là Nguyễn Thùy D, Nguyễn Thùy D1, Nguyễn Thị Hồng Nh, hiện con chung của bà và ông C đã trưởng thành hoàn toàn tự lập, có gia đình riêng, bà V không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bà V bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết chia tài sản chung của bà và ông C.

Tại đơn đề nghị ngày 09 tháng 05 năm 2017, bản tự khai ngày 10 tháng 08 năm 2017, ông Nguyễn Trọng C thừa nhận giữa ông và bà V có quan hệ hôn nhân, như bà V trình bày. Trong quá trình chung sống, kể từ khi kết hôn đến nay vợ chồng ông luôn xảy ra xô xát, cãi vã nhau xét về bản chất sự việc thì không có gì to tát. Ông C muốn gia đình êm ấm, hòa thuận làm ăn, ông không đồng ý ly hôn.

Về việc nuôi con: Ông C thừa nhận ông và bà V có ba con chung như bà V trình bày, hiện nay các con chung của ông và bà V đã trưởng thành, hoàn toàn tự lập và có gia đình riêng ông cũng không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, công nợ chung ông C không đề nghị Tòa xem xét giải quyết.

Ý kiến của kiểm sát viên: Qúa trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ, thực hiện đầy đủ, đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; căn cứ khoản 4 điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kiểm sát viên đề nghi Hội đồng xét xử giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V, xử cho bà V  ly hôn ông C, bà V  phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị V, ông Nguyễn Trọng C xây dựng gia đình với nhau năm 1983, có đăng ký kết hôn, có con chung đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

[2]. Về yêu cầu ly hôn: Bà Đinh Thị V, ông Nguyễn Trọng C thừa nhận trong quá trình chung sống, vợ chồng ông bà luôn xảy ra cãi vã, xô xát. Từ năm 2009, sau khi Tòa án bác đơn xin ly hôn lần đầu đến nay vợ chồng ông, bà vẫn xảy ra mâu thuẫn, không tôn trọng nhau. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp bà V, ông C trình bày khác nhau song thực tế hai bên thường phát sinh mâu thuẫn, ông C thừa nhận vợ chồng ông lấy nhau là do hai bên gia đình ước hẹn, ông và bà V không tìm hiểu kỹ BL36. Mâu thuẫn giữa ông C và bà V đã được đại diện chi bộ, đoàn thể tổ dân phố đến giải quyết nhưng không thành. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã phân tích, động viên bà V nhiều lần nhưng bà V vẫn C quyết đề nghị được ly hôn. Xét thấy mâu thuân giữa bà V với ông C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình không đạt được. Việc bà V về chung sống với ông C mà không tự nguyện dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Vì vậy bà V đề nghị ly hôn với ông C là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Việc nuôi con: Bà Đinh Thị V, ông Nguyễn Trọng C thừa nhận ông bà có ba con chung hiện nay đã trưởng thành và hoàn toàn tự lập và không yêu cầu Tòa giải quyết việc nuôi dưỡng.

[4]. Về tài sản: Sau khi Tòa án có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, bà V, có yêu cầu bổ sung đề nghị Tòa án xem xét giải quyết chia tài sản chung. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, bà V bổ sung yêu cầy khởi kiện chia tài sản vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử không chấp nhận bổ sung yêu cầu khởi kiện của bà V, bà V có quyền khởi kiện với một vụ án khác.

[5]. Tại phiên tòa ông Nguyễn Trọng C vắng mặt, ông C đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt ông C.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị V.

2. Bà Đinh Thị V được ly hôn ông Nguyễn Trọng C.

3. Về án phí: Bà Đinh Thị V  phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (Về ly hôn) là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền án phí bà V phải chịu được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) bà V đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2016/0000469, ngày 27 tháng 04 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình. Bà Đinh Thị V đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, bà V, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (06/09/2017). Ông C vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều  6, 7,7a  và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án”.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2017/HNGĐ-ST ngày 06/09/2017 về ly hôn

Số hiệu:14/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:06/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về