Bản án 138/2020/HS-ST ngày 17/11/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 138/2020/HS-ST NGÀY 17/11/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 17 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Trần Viết T1, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1955 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Viết T và bà Trần Thị T; có vợ là Trần Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 29/8/2020, đến ngày 31/8/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Phạm Đức T2, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1964 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đức H (đã chết) và bà Nguyễn Thị A (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Kim D và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 29/8/2020, đến ngày 31/8/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Trần Phú T3, sinh ngày 10/02/1976 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phú Đ và bà Trần Thị N; có vợ là Trần Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự:

Không; bị tạm giữ ngày 29/8/2020, đến ngày 31/8/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

4. Trần Viết D, sinh ngày 09 tháng 5 năm 1974 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ 30 Cụm 5 Đông Khê, Ngô Quyền, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Viết Dụng và bà Bùi Thị Lẫn; có vợ là Phạm Thị Nguyệt và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 29/8/2020, đến ngày 31/8/2020 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/8/2020, Trần Viết T1, Trần Phú T3, Phạm Đức T2 và Trần Viết D gặp nhau tại quán nước ở tổ 29 cụm 5 phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Một lúc sau, T1 rủ cả nhóm về nhà T1 ở tổ 29 Cụm 5 phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để đánh bài ăn tiền, tất cả đồng ý. Cả nhóm thống nhất đánh bạc dưới hình thức đánh bài “ù” bằng bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn tại nhà T1. Mỗi người được chia 08 lá bài, kết thúc mỗi ván bài, người chơi sẽ cộng điểm các quân bài còn lại của mình. Người có số điểm thấp nhất sẽ về nhất và T2 tiền của 03 người còn lại. Người về nhì phải trả 20.000 đồng, người về ba phải trả 40.000 đồng, người về thứ tư phải trả 60.000 đồng cho người về nhất. Người có bài “cháy” (không có “phỏm”) thì phải trả 100.000 đồng cho người về nhất. Nếu một người có bài “ù” (tức là các quân bài xếp thành phỏm, không còn bài thừa để tính điểm) thì những người còn lại mỗi người phải trả cho người có bài “ù” 200.000 đồng. Đồng thời người có bài “ù” phải trích ra 20.000 đồng cho T1 (gọi là tiền hồ) dùng để mua thuốc lào, nước phục vụ cả nhóm đánh bài. Sau mỗi ván bài, các đối tượng thanh toán được thua bằng tiền cho nhau.

Cả nhóm chơi liên tục đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì bị Công an quận Ngô Quyền phát hiện, bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Trần Viết T1, Phạm Đức T2, Trần Phú T3 và Trần Viết D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Bị cáo Trần Viết T1 khai sử dụng 1.540.000 đồng để đánh “ù”, khi bị bắt có 1.600.000 đồng, T2 60.000 đồng; bị cáo Phạm Đức T2 khai sử dụng 1.900.000 đồng để đánh “ù”, khi bị bắt có 3.120.000 đồng, T2 1.220.000 đồng; bị cáo Trần Phú T3 khai sử dụng 1.785.000 đồng để đánh “ù”, khi bị bắt còn 1.545.000 đồng, bị thua 240.000 đồng; bị cáo Trần Viết D khai sử dụng 1.060.000 đồng, khi bị bắt D bị thua hết số tiền trên. Quá trình chơi, chỉ có T2 được “ù” một lần, nên T2 trích ra 20.000 đồng đưa cho T1 để riêng, phục vụ việc mua thuốc, nước cho cả nhóm. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 cây và số tiền 6.285.000 đồng, trong đó: Thu của T3 1.545.000 đồng, thu của T2: 3.120.000 đồng, thu của T1:

1.600.000 đồng và 20.000 đồng tiền hồ, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quản lý.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 17/CT-VKS ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Trần Viết T1, Phạm Đức T2, Trần Phú T3, Trần Viết D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, vai trò của từng bị cáo, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Viết T1 với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Đánh bạc".

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Đức T2 với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Đánh bạc".

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Phú T3 với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Đánh bạc".

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Viết D với mức án 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Đánh bạc".

- Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập của các bị cáo: Do các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 cây; tịch thu sung nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.285.000 đồng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng: Các bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

+ Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội:

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào sáng ngày 28/8/2020, tại tổ 29 cụm 5 phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh “ù”, được thua bằng tiền với số tiền sử dụng để đánh “ù” là 6.285.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện, các bị cáo đều trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép...”. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trần Viết T1, Phạm Đức T2, Trần Phú T3, Trần Viết D đã đồng phạm tội "Đánh bạc" được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an nên cần phải xử lý thỏa đáng bằng pháp luật hình sự.

[5] Trong vụ án này, các bị cáo đã cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần căn cứ vào tính chất và mức độ tham gia của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

+ Về vai trò của các bị cáo:

[6] Bị cáo Trần Viết T1 tham gia đánh bạc với vai trò chính, là người đề xuất, trực tiếp tham gia và sử dụng số tiền 1.540.000 đồng đánh bạc nên có vai trò cao nhất. Các bị cáo Phạm Đức T2, Trần Phú T3, Trần Viết D đều là người trực tiếp tham gia đánh bạc. Tuy nhiên số tiền bị cáo Phạm Đức T2 sử dụng để đánh bạc là 1.900.000 đồng, bị cáo Trần Phú T3 sử dụng là 1.785.000 đồng hơn nhiều so với số tiền bị cáo Trần Viết D sử dụng để đánh bạc là 1.060.000 đồng nên các bị cáo Phạm Đức T2, Trần Phú T3 có vai trò ngang nhau và cao hơn bị cáo Trần Viết D.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[7] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

+ Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[8] Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Viết D có thời gian phục vụ quân ngũ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Trên cơ sở phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

+ Về áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo:

[10] Xét các bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

+ Về biện pháp ngăn chặn:

[11] Cần tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các Trần Viết T1, Phạm Đức T2, Trần Phú T3, Trần Viết D theo quy định tại Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Về xử lý vật chứng:

[12] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 cây; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.285.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

+ Về án phí:

[13] Các bị cáo Trần Viết T1, Phạm Đức T2, Trần Phú T3, Trần Viết D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

+ Về quyền kháng cáo:

[14] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Viết T1 18 (mười tám) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; bị cáo được trừ 06 ngày vì đã bị tạm giữ từ ngày 29/8/2020 đến ngày 31/8/2020 ; bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 24 (hai mươi bốn ) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Đức T2 15 (mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; bị cáo được trừ 06 ngày vì đã bị tạm giữ từ ngày 2 9/8/2020 đến ngày 31/8/2020; bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày Cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Phú T3 15 (mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; bị cáo được trừ 06 ngày vì đã bị tạm giữ từ ngày 2 9/8/2020 đến ngày 31/8/2020 ; bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Viết D 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc ”; bị cáo được trừ 06 ngày vì đã bị tạm giữ từ ngày 29/8/2020 đến ngày 31/8/2020 ; bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Miễn áp dụng hình phạt tiền và khấu trừ một phần thu nhập đối với các bị cáo Trần Viết T1, Phạm Đức T2, Trần Phú T3 và Trần Viết D.

- Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Trần Viết T1, Phạm Đức T2, Trần Phú T3 và Trần Viết D.

- Về thi hành án: Việc thực hiện nghĩa vụ, xử lý vi phạm, giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự .

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 cây; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.285.000 đồng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các bị cáo Trần Viết T1, Phạm Đức T2, Trần Phú T3 và Trần Viết D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo bị cáo Trần Viết T1, Phạm Đức T2, Trần Phú T3 và Trần Viết D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


12
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về