Bản án 138/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X M, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU 

BẢN ÁN 138/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/11/2019 VỀ TRANH CHẤP VỀ THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN

Ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện XM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 357/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương D, sinh năm: 1986 (Có mặt).

Địa chỉ: p XR, xã PT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm: 1986 (Vắng mặt).

Địa chỉ: p XR, xã PT, huyện XM, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2019 bản khai và các biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn – Bà Trần Thị Phương D trình bày:

Bà D xây dựng gia đình với ông Võ Văn T vào năm 2008, đến năm 2016 do vợ chồng chung sống không hạnh phúc nên đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 263/2016/QĐST-HNGĐ ngày 15/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo quyết định này thì bà D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là Võ Thị Mỹ H, sinh ngày 16/6/2008 và Võ Thị Mỹ P, sinh ngày 14/10/2012. Sau đó ông T làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và được tòa án g iải quyết bằng quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 156/2017/QĐST-HNGĐ ngày 22/6/2017 theo quyết định này thì ông Võ Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Thị Mỹ H, sinh ngày 16/6/2008. Thời gian đầu sau khi cháu H về ở với ông T thì ông T chăm sóc cháu H chu đáo. Tuy nhiên, sau khi ông T lập gia đình mới thì ông T không quan tâm, chăm sóc cháu H như trước mà thường xuyên bỏ bê cháu. Ngoài ra, vợ sau của ông T còn có những hành động ngược đãi và đánh đập cháu khiến cho cháu H có tâm lý hoảng sợ khi sống với ba và mẹ kế. Từ đầu năm 2019 đến nay, cháu H thường xuyên trốn ông T để về nhà bà D để ở. Hơn nữa, hiện nay cháu H đang bước vào tuổi dậy thì, tâm sinh lý của cháu có nhiều thay đổi nên cần có sự quan tâm v à chăm sóc của người mẹ. Ông T hiện có gia đình và có con chung với người vợ mới nên không có nhiều thời gian chăm sóc cháu H.

Nay bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Thị Mỹ H, bà D tự nguyện không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Bà D hiện có nhà ở ổn định và làm nghề buôn bán tự do thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng 10.000.000đ đủ điều kiện để đảm bảo cuộc sống cho các con.

Tòa án đã triệu tập ông Võ Văn T đến tham gia hòa giải nhiều lần nhưng ông T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án lập biên bản về việc vắng mặt đương sự không tiến hành hòa giải được để có cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Tại các phiên Tòa ông T đều vắng mặt không có lý do.

Phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình còn bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc trước đây cũng như tại các phiên tòa là chưa chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Khoản 3, Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Võ Văn T có nơi cư trú tại địa bàn huyện XM theo điểm a, Khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trong quá trình tham gia tố tụng, ông Võ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Vì vậy việc xét xử vắng mặt ông T là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Theo quyết định số 263/2016/QĐST – HNGĐ ngày 15/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện XM thì bà D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là Võ Thị Mỹ H, sinh ngày 16/6/2008 và Võ Thị Mỹ P, sinh ngày 14/10/2012. Sau đó ông T làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và được tòa án giải quyết bằng quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 156/2017/QĐST – HNGĐ ngày 22/6/2017 theo quyết định này thì ông Võ Văn T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng chá u Võ Thị Mỹ H, sinh ngày 16/6/2008 nhưng từ đầu năm 2019 đến nay cháu H trở về chung sống với bà D. Nay bà D yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu H vì bà D cho rằng ông T không quan tâm chăm s óc cháu H như trước mà thường xuyên bỏ bê cháu, vợ sau của ông T có hành động ngược đãi, đánh đập cháu khiến cháu H có tâm lý hoảng sợ.

Kết quả xác minh tại địa phương: Hiện ông T đã lập gia đình mới, ông T làm nghề nuôi vịt nên ít khi ở nhà mà hay ở chòi vịt, hiện cháu H đang sống với bà D. Việc cháu H có bị ông T bỏ bê và bị đánh đập ngược đãi từ mẹ kế hay không thì địa phương không biết.

[4] Xét yêu cầu của bà D cho thấy:

Sau khi ông T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Thị Mỹ H thì cháu H sống với ông T được một thời gian, thực tế hiện nay cháu H đang sống với bà D. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông T vắng mặt và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của ông T đối với yêu cầu khởi kiện của bà D, từ đó cho thấy ông T đã tự từ bỏ quyền lợi của mình đối với con chung.

Xét điều kiện thực tế của bà D, bà D hiện có chỗ ở ổn định, thu nhập ổn định, đảm bảo được cuộc sống cho các cháu. Do đó việc giao cháu H cho bà D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là ổn định về người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con, không làm xáo trộn sinh hoạt, cuộc sống hiện tại, h ơn nữa cháu H có nguyện vọng được ở với bà D và cháu H là con gái đang bước vào độ tuổi phát triển tâm sinh lý, do đó được sống với mẹ sẽ thuận lợi hơn cho cháu. Vì vậy giao cháu H cho bà D được quyền trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D. Bà D không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi cháu H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 3, Điều 28, điểm a, Khoản 1, Điều 35, điểm a, Khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Giao con chung tên Võ Thị Mỹ H, sinh ngày 16/6/2008 cho bà Trần Thị Phương D được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Võ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con .

Ông Võ Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: Bà Trần Thị Phương D phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000201 ngày 18/6/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà D đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 138/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Số hiệu:138/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về