Bản án 137/2018/HS-PT ngày 29/03/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 137/2018/HS-PT NGÀY 29/03/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 29/3/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 74/2018/TLPT-HS ngày 07 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Lê Văn Thành do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đối với bản án hình sự sơ thẩm số 235/2017/HS-ST, ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo: Lê Văn Thành; giới tính: nam; Sinh ngày 1987 tại Tiền Giang; Thường trú: Ấp Hòa Phúc, xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang; trình độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: không; Con ông: Lê Văn Thịnh và bà: Nguyễn Thị Đợi; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giam ngày 06/8/2017 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 06/8/2017, Đội CSĐTTP về Ma túy Công an Quận 12, phối hợp Công an phường Thạnh Lộc, tiến hành kiểm tra hành chính nhà số 24/6a đường TL17, tổ 6, khu phố 3B, phường Thạnh Lộc, Quận 12.

Qua kiểm tra đến phòng ngủ trên gác lửng phát hiện bắt quả tang Lê Văn Thành, đang thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhằm mục đích bán cho người nghiện. Công an đã thu giữ trên bàn trong phòng ngủ của Thành có 03 gói nylon chứa tinh thể không màu cùng một số dụng cụ thành dùng để phân chia và sử dụng ma túy.

Khi thấy Công an kiểm tra, Thành đã ném túi vải qua mái nhà số 20/9, đường TL17, tổ 15, khu phố 3B, phường Thạnh Lộc, Quận 12, đối diện phòng ngủ của Thành, nhưng đã bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ. Kiểm tra bên trong túi vải phát hiện có 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, 02 gói chứa tinh thể màu trắng và một số dụng cụ mà Thành dùng để phân chia ma túy. 

Cùng thời điểm lực lượng Công an kiểm tra, trong nhà lúc này, có Đào Ngọc Phương Uyên vợ của Thành, Nguyễn Thị Thu Hằng, Ngụy Như Trọng, Đặng Vũ Hồng Phúc và Trịnh Đình Chính. Sau đó, Công an Quận 12 đã đưa Lê Văn Thành cùng toàn bộ tang vật và các đối tượng liên quan nêu trên về Trụ sở để điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 12, Lê Văn Thành khai nhận: Do nghiện ma túy và ham lợi bất chính, nên Thành đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy được khoảng 01 tháng, cụ thể như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 04/8/2017, Thành đón xe ôm đến khu vực đường Phan Văn Trị, quận Bình Thạnh, mua ma túy đem về bán cho người nghiện kiếm lời và để sử dụng. Tại đây, Thành gặp và mua 01 gói ma túy tổng hợp của người phụ nữ tên Nhã (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 5.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Thành đem gói ma túy về chỗ ở (địa chỉ như trên) rồi dùng dụng cụ phân chia 19 gói ma túy nhỏ để bán cho người nghiện kiếm lời và để sử dụng. Đến ngày 05/8/2017, có 03 người nghiện là Ngụy Như Trọng, Trịnh Đình Chính, Đặng Vũ Hồng Phúc đến nhà Thành chơi và sử dụng ma túy. Do Thành có nợ với Ngụy Như Trọng 3.500.00 đồng, nên Thành và Trọng thỏa thuận với nhau, khi cần thì Trọng sẽ lấy ma túy của Thành để sử dụng và sẽ trừ vào số tiền mà Thành đang thiếu Trọng, Thành đồng ý. Sau đó, Thành đã lấy 03 gói ma túy đưa cho Trọng, mỗi gói ma túy, Thành tính tiền với Trọng là 200.000 đồng, đồng thời Trọng đã mời các bạn nghiện khác sử dụng ma túy chung với Trọng; còn lại 16 gói ma túy Thành tiếp tục cất giấu để bán cho người nghiện khác kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 235/2017/HS-ST, ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Văn Thành phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Thành 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2017. Phạt bổ sung bị cáo Thành 5.000.000 (năm triệu) đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng và thời hạn kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Thành không kháng cáo. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-P7 ngày 24/1/2018 kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 235/2017/HS-ST, ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo Thành 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 theo hướng hủy bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Đánh giá hành vi quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các trình tự thủ tục tố tụng theo qui định của pháp luật.

[2]Đánh giá hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lê Văn Thành khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Thành không kháng cáo. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-P7 ngày 24/1/2018 kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 235/2017/HS-ST, ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo Thành 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 theo hướng hủy bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung phân tích tính chất vụ án những tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án hình sự sơ thẩm số 235/2017/HS-ST, ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra, truy tố xét xử lại theo thủ tục chung.

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Thành phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kết hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án xét đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Do nghiện ma túy và ham lợi bất chính, nên ngày 04/8/2017 Thành đón xe ôm đến khu vực đường Phan Văn Trị, quận Bình Thạnh, mua ma túy đem về bán cho người nghiện kiếm lời và để sử dụng. Tại đây, Thành gặp và mua 01 gói ma túy tổng hợp của người phụ nữ tên Nhã (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 5.000.000 đồng. Sau đó, Thành đem gói ma túy về nhà dùng dụng cụ phân chia 19 gói ma túy nhỏ để bán cho người nghiện kiếm lời và để sử dụng. Đến ngày 05/8/2017, có 03 người nghiện là Ngụy Như Trọng, Trịnh Đình Chính, Đặng Vũ Hồng Phúc đến nhà Thành chơi. Do Thành có nợ của Trọng 3.500.00 đồng, nên Thành và Trọng thỏa thuận với nhau, khi cần thì Trọng sẽ lấy ma túy của Thành để sử dụng và sẽ cấn trừ vào số tiền mà Thành đang thiếu Trọng, Thành đồng ý. Thành đã lấy 03 gói ma túy đưa cho Trọng, mỗi gói ma túy Thành tính tiền với Trọng là 200.000 đồng, đồng thời Trọng đã lấy ma túy mời Thành, Uyên (vợ Thành) cùng các bạn là Chính và Hằng, Phúc sử dụng chung ma túy tại nhà của Thành thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Với các hành vi như đã nêu trên của bị cáo Thành xét thấy án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Thành về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền của nhà nước về việc quản lý các chất gây nghiện mà còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc để răn đe, phòng ngừa.

[3]Các tình tiết giảm nhẹ: cấp sơ thẩm cũng xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi nên đã chiếu cố giảm nhẹ và xử phạt bị cáo Thành 04 (bốn) năm tù.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Thành không kháng cáo. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-P7 ngày 24/1/2018 kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm số 235/2017/HS-ST, ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh vì ngoài việc bị cáo Thành phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị cáo còn cho người nghiện sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của Thành đã có dấu hiệu phạm thêm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép ma túy” quy định tại Điều 198 của Bộ luật Hình sự năm 1999 nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án hình sự nêu trên.

Hội đồng xét xử xét thấy theo hướng dẫn tại điểm b tiết 3.7 ,mục II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007; Điều 3 Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 qui định “Người nào bán trái phép chất ma túy cho người khác và còn cho họ sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình để sử dụng trái phép chất ma túy thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 Bộ luật Hình sự, người đó còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 198 Bộ luật Hình sự” do đó việc bị cáo Thành ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy còn cho người nghiện sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của Thành đã có dấu hiệu phạm thêm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 198 Bộ luật Hình sự năm 1999 nên chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án sơ thẩm số 235/2017/HS-ST, ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra, truy tố, xét xử lại theo thủ tục chung.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 235/2017/HS-ST, ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra, truy tố, xét xử lại theo thủ tục chung.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Văn Thành cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý lại hồ sơ vụ án.

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


46
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về