Bản án 136/2020/HS-ST ngày 13/11/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 136/2020/HS-ST NGÀY 13/11/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 13 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Thị Bích T, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1984 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Đường A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Phạm Bích D; có chồng là Vũ Văn N và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 14/7/2020, đến ngày 17/7/2020 thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Tuấn A; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Tùng L; vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Ngọc T; vắng mặt.

4. Anh Phạm Văn L; vắng mặt.

5. Anh Mai Quốc H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2017, do hoàn cảnh khó khăn nên T nảy sinh ý định kiếm tiền từ việc đánh bạc thắng thua bằng tiền, dưới hình thức bán “số đề” như sau: Căn cứ vào kết quả sổ số miền bắc mở thưởng hàng ngày để trả thưởng cho khách. Nếu khách trúng đề (số khách đánh trùng với 02 số cuối giải đặc biệt) thì thắng số tiền gấp 90 lần số tiền đã đánh ban đầu, nếu khách trúng ba càng (số khách đánh trùng với 3 số cuối giải đặc biệt) thì thắng số tiền gấp 400 lần số tiền đánh ban đầu, nếu khách trúng bao (số khách đánh trùng với 02 số cuối của các giải mở thưởng) thì thắng số tiền gấp 3,5 lần số tiền đánh ban đầu, nếu khách trúng xiên 2 thì thắng số tiền gấp 15 lần số tiền đánh ban đầu, nếu khách trúng xiên 3 thì thắng số tiền gấp 48 lần số tiền đánh ban đầu, nếu khách trúng xiên 4 thì thắng số tiền gấp 180 lần số tiền đánh ban đầu.

Khoảng 15 giờ ngày 13/7/2020, T dọn bàn ghế ra trước cửa số 384 đường Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền để bán “số đề”. T đã bán “số đề” cho một số khách đi đường. Khoảng 17 giờ 35 phút cùng ngày, Phạm Văn L đến hỏi mua “số đề”. T đồng ý bán, ghi vào tờ tích kê đề các con số L mua gồm: cặp xiên hai (51-70) với giá 100.000 đồng, xiên ba (51-70-80) với giá 100.000 đồng. Tổng tất cả T bán “số đề” cho L là 200.000 đồng. Một lúc sau Mai Quốc H đến hỏi mua “số đề”, T đồng ý bán, ghi vào tờ tích kê đề các con số H mua gồm: số bao 94 bằng 1.000.000 đồng; xiên hai (57-99) bằng 500.000 đồng; xiên ba (57- 99-94) bằng 200.000 đồng; số bao 99 bằng 1.000.000 đồng; xiên hai (91-99) bằng 1.000.000 đồng. Tổng tất cả T bán “số đề” cho H là 3.700.000 đồng. Nguyễn Ngọc T đến hỏi mua “số đề”, T đồng ý bán, ghi vào tờ tích kê đề các con số Tứ mua gồm: số đề 46, 64, 47, 74, 77 với giá 100.000 đồng cho mỗi số đề. Tổng tất cả T bán “số đề” cho Tứ là 500.000 đồng. Ngay lúc sau, Nguyễn Tùng L đến hỏi mua “số đề”, T đồng ý bán, ghi vào tờ tích kê đề các con số L mua gồm: Xiên hai (34- 74) với giá 200.000 đồng và xiên hai (20-21) với giá 500.000 đồng. Tổng tất cả T bán “số đề” cho Tứ là 700.000 đồng. Đúng lúc này, Công an quận Ngô Quyền vào kiểm tra bắt quả tang bị cáo cùng toàn bộ vật chứng.

Vật chứng thu giữ: Thu của T số tiền 9.480.000 đồng tiền bán số đề; 01 bảng đề ghi tổng hợp các số đề đã bán v ới số tiền 19.930.000 đồng; 04 tờ tích kê ghi số đề, trong đó: Thu trên tay của L: 01 tờ tích kê ghi số đề tổng số tiền 200.000 đồng; thu trên tay H: 01 tờ tích kê ghi số đề tổng số tiền 3.700.000 đồng; thu trên tay của Tứ: 01 tờ tích kê ghi số đề tổng số tiền 500.000 đồng và thu trên tay của L: 01 tờ tích kê ghi số đề tổng tổng số tiền 700.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Thị Bích T và Vũ Tuấn A không thu giữ tài liệu đồ vật gì có liên quan.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại địa chỉ ĐKHKTT của Vũ Tuấn A số 384 Lạch Tray, Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thu giữ: 02 ghế nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bàn bằng gỗ kích thước 1mx0,6mx0,6m.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Phạm Thị Bích T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. T khai bán thuê cho Vũ Tuấn A, sinh năm 1971, ĐKHKTT: Số 384 Lạch Tray, Đằng Giang, Ngô Quyền, Hải Phòng, chỗ ở: Số 19/182 Văn Cao, Đằng Giang, Ngô Quyền, Hải Phòng. T khai việc Tuấn A thuê T chỉ thỏa thuận giữa hai người, không có giấy tờ gì chứng minh. Ngày 13/7/2020, T đã bán số đề cho các khách được tổng là 19.930.000 đồng, trong đó số tiền bán số đề là 3.920.000 đồng; số tiền bán ba càng là 1.600.000 đồng; số tiền bán số xiên là 4.500.000 đồng và số tiền bán số bao là 9.910.000 đồng. Số tiền trên bị cáo chỉ thu được 9.480.000 đồng, còn lại người người mua số đề nợ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vũ Tuấn A không thừa nhận việc thuê Phạm Thị Bích T bán “số đề” cho Tuấn A như lời khai của T và khai: Do T là họ hàng xa với gia đình Tuấn A nên T có hỏi nhờ Tuấn A ngồi ở vỉa hè trước cửa quán cà phê của Tuấn A ở số 384 Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đ ể bán xổ số cho nhà nước. Tuấn A không liên quan và không biết việc T bán “số đề” cho khách như trên. Về 02 ghế nhựa màu đỏ và 01 bàn bằng gỗ là của T, T thường gửi nhờ quán Tuấn A.

Tại Cáo trạng số 124/CT-VKS ngày 16/10/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy t ố bị cáo Phạm Thị Bích T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi của mình như nội dung Cáo trạng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị Bích T với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội "Đánh bạc".

- Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập của bị cáo: Do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 9.480.000 đồng.

+ Tịch thu, tiêu hủy 02 ghế nhựa màu đỏ và 01 bàn gỗ kích thước 1mx0,6mx0,6m theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Trong vụ án này, Phạm Văn L, Mai Quốc H, Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Tùng L có hành vi mua số đề của T, nhưng hành vi của các đối tượng không cấu thành tội phạm. Vì vậy, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

- Đối với Vũ Tuấn A, ngoài lời khai của Phạm Thị Bích T không có tài liệu gì khác chứng minh Tuấn A phạm tội nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã th ực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

+ Về chứng cứ xác định bị cáo có tội:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, cơ bản phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 13/7/2020, tại số 384 đường Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, bị cáo Phạm Thị Bích T có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số đề được thua bằng tiền trị giá 19.930.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 13/7/2020), bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng L hành vi dân sự. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “đánh bạc trái phép là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép...”. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Thị Bích T phạm tội "Đánh bạc" được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

+ Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Nhân thân của bị cáo Phạm Thị Bích T không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bố chồng bị cáo là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an nên cần phải xử lý thỏa đáng bằng pháp luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

+ Về áp dụng hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập đối với bị cáo:

[7] Xét bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo theo quy định tại Điều 36 và khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

+ Về biện pháp ngăn chặn:

[8] Tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đang bị áp dụng đối với bị cáo Phạm Thị Bích T theo quy định tại Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Về thi hành án:

[9] Việc thực hiện nghĩa vụ, xử lý vi phạm, giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự .

+ Về xử lý vật chứng:

[10] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 9.480.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006012 ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Tịch thu, tiêu hủy 02 ghế nhựa màu đỏ và 01 bàn gỗ kích thước 1mx0,6mx0,6m không còn giá trị sử dụng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

[11] Trong vụ án này, Phạm Văn L, Mai Quốc H, Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Tùng L có hành vi mua số đề của T, nhưng hành vi của các đối tượng không cấu thành tội phạm. Vì vậy, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

[12] Đối với Vũ Tuấn A, ngoài lời khai của Phạm Thị Bích T không có tài liệu gì khác chứng minh Tuấn A phạm tội nên Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát không có căn cứ xử lý. Tuy nhiên tại Lệnh khám xét và Biên bản khám xét nơi ở của Vũ Tuấn A, Cơ quan Điều tra có sửa chữa ngày giờ mà không theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Điều tra và Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Vũ Tuấn A, nếu có vi phạm thì xử lý theo quy định của pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm.

+ Về án phí:

[13] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; bị cáo Phạm Thị Bích T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

+ Về quyền kháng cáo:

[14] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; Luật Thi hành án hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Bích T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; khi chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 12 ngày vì đã bị tạm giữ 04 ngày; bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 18 (mười tám) ngày Cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận được Quyết định thi hành án và Bản sao bản án.

Miễn áp dụng hình phạt tiền, miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo Phạm Thị Bích T.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Việc thực hiện nghĩa vụ, xử lý vi phạm, giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự .

- Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phạm Thị Bích T.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 9.480.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006012 ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; tịch thu, tiêu hủy 02 ghế nhựa màu đỏ và 01 bàn gỗ kích thước 1mx0,6mx0,6m không còn giá trị sử dụng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; bị cáo Phạm Thị Bích T phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phạm Thị Bích T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời H thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


15
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về