Bản án 134/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 134/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/05/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 233/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019, và Quyết định hoãn phiên tòa số: 116/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Bích T – sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

Bị đơn: Anh Mai Hoàng T – sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau

Tại phiên tòa, chị Tuyền có mặt, anh T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 08/4/2019 và tại phiên tòa, chị Lê Bích T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh T sống chung năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, hiện vợ chồng chị đã ly thân nhau. Xét thấy cuộc sống chung không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

Về con chung: Có hai người con chung là cháu Mai Phương N, sinh ngày 14/2/2017 và Mai Phương T, sinh ngày 21/02/2015, cháu Ngọc hiện sống cùng chị, cháu Thúy hiện sống cùng anh T. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngọc, yêu cầu anh T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thúy và các bên không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Mai Hoàng T đúng theo quy định pháp luật, anh T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Mai Hoàng T có nơi trú ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Tuyền khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh T, yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị T là người khởi kiện, anh T là người bị kiện nên xác định tư cách đương sự chị T là nguyên đơn, anh T là bị đơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh T đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai những vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ theo Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh T theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K vào ngày 21/01/2015 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Tại phiên tòa, chị xác định, nếu các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Tuyền được ly hôn với anh T.

[3] Về con chung: Anh chị có 2 người con chung là cháu Mai Phương N, sinh ngày 14/2/2017 và Mai Phương T, sinh ngày 21/02/2015, cháu Ngọc hiện đang sống với chị, cháu Thúy hiện đang sống cùng với anh T. Các cháu hiện chưa đủ tuổi để ghi nhận nguyện vọng theo quy định của pháp luật nên cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của cha hoặc mẹ cũng như điều kiện sinh hoạt của các cháu để quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu. Chị T là người trực tiếp chăm sóc các cháu từ khi sinh ra đến nay, cháu Ngọc hiện còn rất nhỏ do đó cần giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Ngọc, hiện hoàng cảnh chị T khó khăn chỉ có thể trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngọc, không có khả năm nuôi dưỡng thêm cháu Thúy. Cháu Thúy từ lâu đã sống với cha, điều kiện anh T đảm bảo để nuôi dưỡng cháu Thúy. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định vốn có của các cháu lâu nay cũng như phù hợp với điều kiện của các bên đương sự, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Ngọc cho chị T và cháu Thúy cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với sự phát triển của các cháu và đúng với quy định của pháp luật.

[4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Do chị T và anh T mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung, chị T không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với các bên là có cơ sở.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Tuyền phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Anh T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Bích T về việc yêu cầu được ly hôn với anh Mai Hoàng T

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Bích T được ly hôn với anh Mai Hoàng T.

2. Về con chung: Giao cháu Mai Phương N, sinh ngày 14/2/2017 cho chị Lê Bích T trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Mai Phương T, sinh ngày 21/02/2015 cho anh Mai Hoàng T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Mai Hoàng T và chị Lê Bích T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Anh Mai Hoàng T và chị Lê Bích T không phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Lê Bích T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, chị có nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002948 ngày 09 tháng 4 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu, chị Lê Bích T không phải nộp tiếp.

Án xử công khai, chị Lê Bích T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Mai Hoàng T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 134/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:134/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về