Bản án 134/2019/HNGĐ-ST ngày 23/08/2019 về ly hôn, tranh chấp việc nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 134/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/08/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP VIỆC NUÔI CON CHUNG

Ngày 23 tháng 8 năm 2019 tại Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý: 650/2019/T LST - HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019về việc “Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2019/QĐXX-ST ngày 23/7/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đào Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ cư trú: ấp Đ, xã H (nay là phường Hóa An), thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: ấp Đ, xã H (nay là phường H), thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin vắng mặt ngày 21/8/2019, nguyên đơn bà Đào Thị H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn Ph chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 66, quyền số 01/2003, ngày 27/6/2003. Quá trình chung sống ban đầu hạnh Ph nhưng đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông Ph thường xuyên nhậu nhẹt, say xỉn, ghen tuông và đánh đập bà. Bà và ông Ph có nhiều lần ngồi lại hòa giải nhưng ông Ph không thay đổi. Bà xác định mâu thuẫn giữa hai bên trầm trọng, cuộc sống không hạnh Ph, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho bà ly hôn với ông Ph.

Về con chung: Bà H xác định có một con chung là Nguyễn Thị Hương Gi, sinh ngày 23/5/2006. Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng.

Bà H xác định tự thỏa thuận tài sản chung với ông Ph và vợ chồng không có nợ chung. Do bận công việc nên bà đề nghị vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án.

Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 02/7/2019, bị đơn ông Nguyễn Văn Ph trình bày: Ông và bà H chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Q cấp giấy chứng nhận kết hôn. Quá trình chung sống ban đầu hạnh Ph, nhưng sau đó đến tháng 7 năm 2018 phát sinh mâu thuẫn do bà H gây lộn trước, hai vợ chồng thường xuyên lớn tiếng lại. Nay bà H yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý vì ông theo đạo Thiên Chúa, không lên tòa được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Ông Ph xác định ông bà có một con chung là cháu Nguyễn Thị Hương Gi, sinh ngày 23/5/2006. Ông đề nghị nếu Tòa quyết ly hôn thì tùy theo nguyện vọng của cháu Gi.

Ông Ph xác định tự thỏa thuận tài sản chung với bà H và không có nợ chung. Do bận công việc, ông Ph đề nghị được vắng mặt khi tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và khi xét xử vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, ngoài các chứng cứ các đương sự đã cung cấp từ khi thụ lý, nguyên đơn, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: đã thực hiện đúng theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định quan hệ pháp luật, tư cách của đương sự và thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và lời trình bày, tranh luận của đương sự tại phiên tòa hôm nay có đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông Ph, giao con chung cho bà H nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng vì bà H không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Tố tụng:

- Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp:

Bà Đào Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn Ph và yêu cầu được nuôi con chung. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định bà H là nguyên đơn, ông Ph là bị đơn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con chung”.

- Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Văn Ph có địa chỉ thường trú và cư trú tại phường H, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. C ăn cứ vào khoản 01 Điều 28, Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của bà Hà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Về thủ tục tố tụng khác: Bà Đào Thị H và ông Nguyễn Văn Ph có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Bà Đào Thị H và ông Nguyễn Văn Ph chung sống tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số số 66, quyền số 01/2003, ngày 27/6/2003. Đối chiếu quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định hôn nhân của bà Hà và ông Ph là hợp pháp.

Bà H và ông Ph đều thừa nhận sau quá trình chung sống ban đầu thì hai bên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 7 năm 2018 đến nay vợ chồng thường xuyên cãi vã, không quan tâm nhau.

Xét thấy: Tại biên bản xác minh ngày 18 tháng 7 năm 2019 (bút lục 31), Ủy ban nhân dân phường H xác định không biết mâu thuẫn của bà H và ông Ph vì các đương sự không trình báo, không yêu cầu hòa giải. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa bà H và ông Ph là có thật, trầm trọng, cuộc sống không hạnh Ph, mục đích hôn nhân không đạt được. Bản thân ông Ph khai không muốn ly hôn nhưng lại đưa lý do theo đạo Thiên Chúa, không có biện pháp hòa giải đoàn tụ với bà H. Do đó cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị H đối với ông Nguyễn Văn Ph.

Về con chung: bà H và ông Ph xác định có một con chung là cháu Nguyễn Thị Hương Gi, sinh ngày 23/5/2006. Bà Hà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng. Xét thấy hiện nay cháu Gi đang sống cùng bà H, cháu Gi có nguyện vọng được ở với mẹ, ông Ph có lời khai đồng ý theo nguyện vọng của cháu Gi. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu Gi cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, không xem xét trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung của ông Ph do bà H không có yêu cầu.

Về tài sản chung: Bà H và ông Ph tự thòa thuận nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà H và ông Ph khai không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn bà Đào Thị H phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35, 39, Khoản 4 Điều 147, 228, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 110 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị H đối với ông Nguyễn Văn Ph.

Cho bà Đào Thị H được ly hôn ông Nguyễn Văn Ph.

2. Về con chung: Giao con chung của bà Đào Thị H và ông Nguyễn Văn Ph là cháu Nguyễn Thị Hương Gi, sinh ngày 23/5/2006 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời ông Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà H, ông Ph có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp cần thiết, một trong các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Bà H và ông Ph tự thòa thuận nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà H và ông Ph khai không có nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Bà Đào Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà Hà đã nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004518 ngày 29/3/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Bà Đào Thị H, ông Nguyễn Văn Ph được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 134/2019/HNGĐ-ST ngày 23/08/2019 về ly hôn, tranh chấp việc nuôi con chung

Số hiệu:134/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về