Bản án 134/2018/HS-ST ngày 29/11/2018 về tội hủy hoại tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N -TỈNH D

BẢN ÁN 134/2018/HS-ST NGÀY 29/11/2018 VỀ TỘI HỦY HOẠI TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh D xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 135/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1973 tại DN; nơi cư trú: ấp B, xã L, huyện N, tỉnh D; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị S (chết); sống chung như vợ chồng với bà Nguyễn Thị T có 02 con, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1998; sống như vợ chồng với bà Trần Thị Thu H từ năm 2012, không có con, ngày 13/11/2018 Tòa án nhân dân huyện N xét xử tại Bản án số: 120/2018/HNGĐ-ST không công nhận ông B và bà H là vợ chồng; tiền sự, tiền án: không; bị cáo được tại ngoại (có mặt).

Người bị hại: Bà Trần Thị Thu H – 1968 (có mặt)

Địa chỉ: 275/32 BĐ, p. 15, quận B, Tp. H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 04/02/2018, Nguyễn Văn B đang tổ chức tiệc tất niên tại quán H thuộc ấp V, xã L, huyện N thì có chị Huỳnh Thị Dương N, sinh năm 1979, ngụ tại: Ấp 2, xã L, huyện N và chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1968, ngụ tại: 275/32 BĐ, p. 15, quận B, Tp. H đến gặp. Khi gặp nhau giữa chị N và B có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Lúc này, chiếc điện thoại di động Iphone 6S plus của chị H có số điện thoại lạ gọi đến nên chị H lấy điện thoại ra để nghe, chị H thấy máy đã hết đổ chuông nên bật điện thoại lên để xem cuộc gọi nhỡ của ai. Lúc này, nghĩ chị H dùng điện thoại quay phim nên B bực tức đến giật chiếc điện thoại trên tay của chị H đập một cái xuống đường, chị H nhặt điện thoại lên thì B tiếp tục giật lấy điện thoại đập một cái xuống đường làm chiếc điện thoại bị vỡ nát. Sau đó, B lấy một chiếc mũ bảo hiểm cầm bằng tay phải đánh 4 cái trúng đầu, mắt, gáy của chị H. Nhận được tin báo Công an xã L đến lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xử lý theo thẩm quyền.

Tại biên bản định giá tài sản số: 36/BB.HĐĐG và Kết luận định giá tài sản số: 36/KLĐG-HĐĐG ngày 13/02/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N xác định 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus loại 64G, giá trị sử dụng còn lại trước khi bị đập phá là 60%. Tổng giá trị tài sản định giá là 7.200.000đồng.

Tại biên bản định giá tài sản số: 122/BB.HĐĐG và Kết luận định giá tài sản số: 122/KLĐG-HĐĐG ngày 29/6/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N xác định: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S plus 64G – Model A1687, màu hồng sau khi đã bị đập bể trị giá còn lại: 0 đồng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0153/GĐPY/2018 ngày 20/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh D kết luận: Theo Thông tư số: 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ y tế không định tỷ lệ cho chấn thương phần mềm đầu, mắt trái, gáy (cổ sau), khuỷu tay trái và cổ tay trái không để lại sẹo, không ảnh hưởng chức năng. Vật gây thương tích: Vật tày.

Tang vật vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu hồng, phía trước màn hình đã bị vỡ.

Trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Thu H yêu cầu bị can Nguyễn Văn B bồi thường thiệt hại nhưng đến nay B chưa bồi thường.

Đối với Nguyễn Văn B có hành vi Cố ý gây thương tích đối với chị Trần Thị Thu H, căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0153/GĐPY/2018 ngày 20/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh D kết luận không định tỷ lệ cho chấn thương phần mềm đầu, mắt trái, gáy (cổ sau), khuỷu tay trái và cổ tay trái không để lại sẹo, không ảnh hưởng chức năng. Do không có tỷ lệ tổn thương cơ thể nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn B về hành vi Cố ý gây thương tích.

Tại bản cáo trạng số; 131/CT.VKS ngày 09/11/2018 của Viện kiểm sát nhaân daân huyeän N, tỉnh D truy tố bị can Nguyễn Văn B về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo B về tội “Hủy hoại tài sản”; đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47, 48, 65 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 8 đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo.

Về các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự; Buộc bị cáo bồi thường giá trị chiếc điện thoại Iphone 6S plus cho bà H số tiền 7.200.000đồng; tịch thu tiêu hủy chiếc điện thoại Iphone 6S plus 64G-Model A 1687 màu hồng do không còn giá trị sử dụng.

Xét các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin Tòa án xem xét mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo B khai nhận: Vào lúc 17 giờ ngày 04/02/2018, bị cáo đang tổ chức tiệc tất niên tại quán H thuộc ấp V, xã L, huyện N thì có bà N và bà H đến gặp. Khi gặp nhau giữa bà N và bị cáo có xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Lúc này, điện thoại di động của bà H có số điện thoại lạ gọi đến nên bà H lấy điện thoại ra để nghe, bà H thấy máy đã hết đổ chuông nên bật điện thoại lên để xem cuộc gọi nhỡ của ai. Lúc này, bị cáo nghĩ bà H dùng điện thoại quay phim nên bị cáo bực tức đến giật chiếc điện thoại trên tay của bà H đập một cái xuống đường, bà H nhặt điện thoại lên thì bị cáo tiếp tục giật lấy điện thoại đập một cái xuống đường làm chiếc điện thoại bị vỡ nát. Sau đó, bị cáo lấy một chiếc mũ bảo hiểm cầm bằng tay phải đánh 4 cái trúng đầu, mắt, gáy của chị H. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai người bị hại, người làm chứng và vật chứng của vụ án. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng (giá trị thiệt hại tài sản là 7.200.000đ), nhưng hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét cho bị cáo các tình tiết như đã bồi thường thiệt hại, gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và nơi làm việc ổn định, trong thời gian được tại ngoại đến nay không có vi phạm gì. Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải bắt chấp hành phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Xét lời luận tội của kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt và các biện pháp tư pháp là có căn cứ pháp luật.

Bị cáo có hành vi dùng nón bảo hiểm đánh chị H, căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0153/GĐPY/2018 ngày 20/3/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận không định tỷ lệ cho chấn thương phần mềm đầu, mắt trái, gáy (cổ sau), khuỷu tay trái và cổ tay trái không để lại sẹo, không ảnh hưởng chức năng. Do không có tỷ lệ tổn thương cơ thể nên không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn B về hành vi cố ý gây thương tích là đúng pháp luật.

Các biện pháp tư pháp: Người bị hại yêu cầu bồi thường giá trị chiếc điện thoại 7.200.000đồng và 3.000.000đồng chi phí giám định, bị cáo đồng ý và đã bồi thường tại phiên tòa nên ghi nhận.

Chiếc điện thoại Iphone 6S plus 64G-Model A 1687 màu hồng đã bị bể do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Hủy hoại tài sản”;

Áp dụng khỏan 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47, 48, 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu … sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 8 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 1 năm 4 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã L, huyện N, tỉnh D giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về các biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo bồi thường cho bà H số tiền 10.000.000đồng (đã giao tiền xong tại phiên tòa) Tịch thu tiêu hủy điện thoại Iphone 6S plus 64G-Model A 1687 màu hồng. Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện N đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2018.

Về án phí: Bị cáo B phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


51
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về