Bản án 133/2019/HS-ST ngày 26/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 133/2019/HS-ST NGÀY 26/09/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 131/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 153/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Thị Yến T; giới tính: Nữ; sinh năm: 1976; tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 949B BĐ, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Không; con ông Phạm Văn K và bà Phan Thị L; có chồng Từ Thiện H, có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 1999; tiền án tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 18/6/2019. (có mặt)

- Bị hại: Chị Võ Thị Thu A; sinh năm: 1972; nơi cư trú: 1845/2 đường P, Phường 6, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Anh Trần Quang D; sinh năm: 1970; nơi cư trú: 879/68 THĐ, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2/ Chị Từ Thị Tường V; sinh năm: 1999; nơi cư trú: 917 BĐ, Phường E, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 9 giờ 30 phút ngày 01/4/2019, Phạm Thị Yến T điều khiển xe mô tô Airblade biển số 54H4-4648 đi công việc, khi đi ngang nhà 1845/2 đường P, Phường S, Quận 8 thì T phát hiện nhà không đóng cửa, không có ai trông coi nên T nảy sinh ý định vào nhà trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, T dừng xe máy trước cửa nhà trên rồi đi vào nhà tìm kiếm tài sản, khi vào nhà T phát hiện 01 điện thoại di động Samsung J7 Prime màu trắng trên bàn máy may nên T lấy điện thoại bỏ vào túi áo khoác bên trái rồi quay ra cửa tẩu thoát. Khi đang đi ra ngoài thì T bị chủ nhà là chị Võ Thị Thu A phát hiện, tri hô và cùng với quần chúng bắt giữ T đưa về trụ sở Công an Phường S, Quận 8 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó, chuyển cho Cơ quan điều tra Công an Quận 8 thụ lý theo thẩm quyền. Ngoài ra, còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động hiệu Nokia và 1 xe mô tô biển số 54H4-4648.

Ngày 02/5/2019 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 kết luận định giá, xác định giá trị chiếc điện thoại Samsung J7 Prime nêu trên là 2.800.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime của chị Võ Thị Thu A, Ngày 10/4/2019 Cơ quan điều tra Công an Quận 8 đã trả lại cho chị Thu chiếc điện thoại nêu trên:

01 xe mô tô hiệu Airblade biển số 54H4-4648 thu giữ của T, qua xác minh do anh Trần Quang D đứng tên chủ sở hữu, anh D cho chị Từ Thị Tường V mượn xe sử dụng, chị V cho T mượn xe đi mua đồ ăn sáng, việc T sử dụng xe đi thực hiện hành vi phạm tội chị V và anh D không biết. Ngày 01/6/2019 Cơ quan điều tra Công an Quận 8 đã trả lại chiếc xe nêu trên cho anh D:

01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ thu giữ của Phạm Thị Yến T là tài sản cá nhân.

Phần bồi thường dân sự: Chị A đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 15/8/2019 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Phạm Thị Yến T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù theo khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, vào lúc 9 giờ 30 ngày 01/4/2019, khi đi ngang qua nhà số 1845/2 Đường P, Phường S, Quận 8, Phạm Thị Yến T phát hiện nhà không đóng cửa, T đã vào nhà lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Samsung J7 Prime của chị Võ Thị Thu A, chiếc điện thoại trị giá 2.800.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại, bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[5] Xét thấy, bị hại không yêu cầu gì về phần dân sự nên không đề cập giải quyết.

[6] Về vật chứng vụ án:

[6.1] 01 điện thoại di động Samsung J7 Prime đã trả cho bị hại, 01 xe mô tô biển số 54H4-4648 đã trả cho chủ sở hữu nên không đề cập giải quyết.

[6.2] 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Yến T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Yến T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/6/2019.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Yến T 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đỏ, seri (code) 059S7R9.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 217/PNK ngày 07/8/2019 của Công an Quận 8).

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 133/2019/HS-ST ngày 26/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:133/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 8 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về