Bản án 132/2020/HS-ST ngày 12/11/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 132/2020/HS-ST NGÀY 12/11/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 12 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi Văn X, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1963 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 36/72 đường Nguyễn Công T, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Ấ và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Phạm Thị H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 16/8/2020, đến ngày 21/8/2020 thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ ngày 16/8/2020, tại vỉa hè trước cửa số 225 đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng, Công an quận N bắt quả tang Bùi Văn X có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số đề cho Nguyễn Công S, sinh 1995, nơi cư trú: Số 5/30/85/313 đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; Nguyễn Văn H, sinh 1982; nơi cư trú: Số 256 đường T, phường Th, quận H, thành phố Hải Phòng và Nguyễn Thị L, sinh 1967; nơi cư trú: Số 20Đ8 phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng. Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và dẫn giải các đối tượng về trụ sở lập biên bản.

Vật chứng thu giữ: 01 tờ giấy A4 là bảng tổng hợp các số đề, bao, xiên, 04 tờ tích kê bản chính, 12 tờ tích kê bản sao bằng giấy than đều ghi ngày 16/8/2020 và số tiền 1.900.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà ở của Bùi Văn X tại số 36/72 đường N, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng, Cơ quan công an không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Tại cơ quan điều tra, Bùi Văn X khai nhận: Do không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Bùi Văn X nảy sinh ý định đánh bạc dưới hình thức bán số đề thuê cho một người đàn ông tên Thắng (hiện không rõ lai lịch địa chỉ) để kiếm tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 16 giờ 00 hàng ngày, X kê bàn ghế ra vỉa hè trước cửa số nhà 225 đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng để bán bao, đề cho khách và căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng lúc 18 giờ 30 phút để thanh toán thắng thua cho khách với tỷ lệ: khách trúng đề được trả thưởng gấp 90 lần số tiền khách đánh đề, trúng bao được trả thưởng gấp 3,5 lần, trúng ba càng được trả thưởng gấp 400 lần, trúng xiên 2, xiên 3, xiên 4 được trả thưởng gấp 14, 45 và 150 lần. T bộ các số bao đề và số tiền khách đánh bao đề, X sẽ ghi trên một tờ giấy A4 là bảng đề. Hàng ngày, khoảng 18 giờ 15 phút, T sẽ trực tiếp đến nhận bảng đề của X, thanh toán thắng thua và trả tiền hoa hồng bán thuê cho X theo thỏa thuận: Bán số đề X được trả 5%, số bao được trả 3%, số xiên được trả 14%, số ba càng được trả 30% số tiền khách đánh.

Khoảng 16 giờ 00 ngày 16/8/2020, X kê bàn ghế ra khu vực vỉa hè trước số 225 đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng để bán đề, bao. Khoảng 17 giờ 00 cùng ngày, Nguyễn Công S đến và mua của X số bao 40 với giá 1.300.000 đồng và 02 số đề 04, 40 mỗi số 100.000 đồng, tổng số tiền là 1.500.000 đồng. X nhận tiền, viết các số bao, đề lên 01 tờ tích kê và đưa cho S. Sau đó, X tiếp tục bán số đề cho một số đối tượng không rõ lai lịch địa chỉ và lấy tiền này trả nợ chi tiêu cá nhân. Đến khoảng 17 giờ 50 phút, Nguyễn Công Sơn quay lại quán của X và mua thêm 02 số đề 25 và 45, mỗi số 1.500.000 đồng và đưa X 3.000.000 đồng. Đồng thời, lúc này, có một số người không rõ lai lịch địa chỉ đến thanh toán tiền thắng đề, bao ngày hôm trước nên X đã nhận tích kê đề của họ, kiểm tra, trả tiền thưởng và hủy luôn các tích kê nói trên. Khi S đi khỏi quán được một đoạn thì đến khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị L đi đến và hỏi mua của X các số bao đề. H hỏi mua 01 số ba càng 579 với giá 50.000 đồng và 01 số bao 79 với giá 1.600.000 đồng. L mua của X 10 số đề (đầu 0) với giá 5.000 đồng/số, 02 cặp số xiên 2 (02-20) và (87-32) với giá 30.000 đồng/cặp, 02 số bao 27 và 99 với giá 50.000 đồng/số, tổng số tiền là 210.000 đồng. X nhận tiền và viết 01 tờ tích kê đưa cho Hiệu, 01 tờ tích kê đưa cho L. Ngay lúc này, lực lượng Công an vào kiểm tra bắt quả tang X, H, L đồng thời bắt giữ S khi S vừa đi khỏi quán của X được một đoạn, thu giữ vật chứng và dẫn giải các đối tượng về trụ sở lập biên bản.

Ngoài ra, X khai nhận, trong ngày 16/8/2020, ngoài bán số bao đề cho 03 đối tượng Sơn, Hiệu, Lan với số tiền 6.360.000 đồng, X còn bán số đề cho nhiều đối tượng không quen biết với số tiền 890.000 đồng; tổng cộng số tiền bán đề là 7.250.000 đồng. Tuy nhiên, X đã dùng số tiền trên trả nợ cá nhân và trả thưởng cho một số khách chơi thắng đề từ những ngày trước đó nên khi cơ quan công an bắt giữ chỉ còn lại số tiền 1.900.000 đồng. Các ngày trước đó, sau khi đối chiếu thắng thua, thanh toán và chuyển bảng cho Thắng, X đều hủy hết các tích kê đề.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 16/QĐ-VKSNQ ngày 25/10/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Bùi Văn X về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Bùi Văn X khai nhận hành vi thực hiện như nội dung nêu trên, như quyết định truy tố và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Thẩm phán xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật được cải tạo ngoài xã hội trở thành người có ích cho xã hội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn X như nội dung Quyết định truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Thẩm phán: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 58 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Bùi Văn X từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Về vật chứng: Đề nghị Thẩm phán tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.900.000 đồng; buộc bị cáo X nộp lại số tiền 5.350.000 đồng là tiền do phạm tội mà có. Bị cáo Bùi Văn X không có nghề nghiệp ổn định và tài sản nên đề nghị Thẩm phán miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

[1] Đây là vụ án phạm tội quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, tội phạm thực hiện là tội ít nghiêm trọng, người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. Vì vậy vụ án đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về việc xác định tội danh, điều luật áp dụng:

[3] Bị cáo Bùi Văn X khai nhận: Ngày 16/8/2020, tại vỉa hè trước cửa số 225 đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng, Bùi Văn X đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán thuê số đề, bao với tổng số tiền là 7.250.000 đồng, trong đó bị bắt quả tang bán số đề, bao với Nguyễn Thị L, Nguyễn Công S và Nguyễn Văn H với số tiền là 6.360.000 đồng.

[4] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

[5] Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn X phạm tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Bị cáo Bùi Văn X không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn X thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Bị cáo Bùi Văn X phạm tội ít nghiêm trọng và có nơi thường trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội nên xử phạt bị cáo với mức hình phạt là cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú và gia đình quản lý là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[9] Bị cáo Bùi Văn X làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung:

[10] Bị cáo Bùi Văn X không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền.

- Về xử lý vật chứng:

[11] Đối với số tiền 1.900.000 đồng cơ quan công an thu giữ của bị cáo X, xét đây là số tiền do phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[12] Tổng số tiền bị cáo X bán số đề ngày 16/8/2020 là 7.250.000 đồng (trong đó bị cáo đã sử dụng số tiền 5.350.000 đồng thanh toán cho những người khác trúng thưởng ngày hôm trước). Xét đây là số tiền do phạm tội mà có nên buộc bị cáo phải nộp lại vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.350.000 đồng.

[13] Trong vụ án này, hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số đề của Nguyễn Công S, Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị L đều dưới 5.000.000 đồng. Về nhân thân các đối tượng đều chưa có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc, Gá bạc nên Cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S, H và L.

[14] Đối với người đàn ông tên T thuê X bán đề, hiện Cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xem xét xử lý.

- Về án phí:

[15] Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Văn X phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bùi Văn X 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. Khi chấp hành án trừ cho bị cáo 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ do bị cáo đã bị tạm giữ 05 (năm) ngày trước đó từ ngày 16/8/2020 đến ngày 21/8/2020. Bị cáo Bùi Văn X còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 15 (mười lăm) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Bùi Văn X cho Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Bùi Văn X có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát và giáo dục bị cáo Bùi Văn X.

Trong trường hợp người được cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc là 1.900.000 (một triệu, chín trăm nghìn) đồng.

+ Bị cáo Bùi Văn X phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền là 5.350.000 (năm triệu, ba trăm năm mươi nghìn) đồng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2020 giữa Công an quận N, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án quận N, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc: Bị cáo Bùi Văn X phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Bùi Văn X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


19
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về