Bản án 13/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

BẢN ÁN 13/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/05/2019 VỀ YÊU CẦU LY HÔN

Ngày 31-5-2019, tại trụ sở TAND huyện Đất Đỏ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 216/2018/TLST-HNGĐ ngày 30-8-2018 về tranh chấp “yêu cầu ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXX-ST ngày 23-4-2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 12/QĐ ngày 09-5-2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Ôn Thị Bích H, sinh năm: 1981 (có mặt).

HKTT: số 02 kp T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Chỗ ở: 2/4A ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

2. Bị đơn: ông Trần Sơn H, sinh năm: 1979.

Đa chỉ: số 02 kp T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (ông H vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện ngày 30-8-2018 và quá trình tố tụng tại tòa án, nguyên đơn bà Ôn Thị Bích H trình bày: bà H và ông Trần Sơn H tự nguyện chung sống vợ chồng và đăng ký kết hôn vào năm 2004. Sau khi kết hôn sống cùng với gia đình chồng, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường hay cãi vả, ông H có tính gia trưởng mỗi lần đi nhậu về kiếm chuyện đánh đập bà H từ đó vợ chồng không còn tình cảm nên vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng có gặp nhau để hàn gắn nhưng không thành. Nay vì tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: bà H và ông H có 02 người con tên Trần Gia H, sinh ngày 01-11-2004 và Trần Sơn H, sinh ngày 12-02-2012, hiện 02 con đang ở với ông H từ lúc vợ chồng ly thân. Sau khi ly hôn bà H đồng ý để 02 con cho ông H trực tiếp nuôi và bà H không cấp dưỡng nuôi con, trường hợp ông H không nuôi thì bà H nuôi và không yêu cầu ông H cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: bà H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với ông Trần Sơn H vắng mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho ông H và giấy triệu tập ông H đến Tòa án để ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng ông H không đến và cũng không có văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà H và không có yêu cầu phản tố.

- Tại Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 22-4-2019 của TAND huyện Đất Đỏ, nơi vợ chồng bà H ông H sinh sống, được biết quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn thế nào thì địa phương không rõ nhưng thực tế hiện nay vợ chồng không còn sống chung với nhau, bà H đã chuyển về huyện Đ sinh sống còn ông H vẫn sống tại địa phương và đang nuôi hai con chung.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng:

+ Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự khi tiến hành các hoạt động tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án và xác định đúng quan hệ tranh chấp của vụ án.

+ Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

+ Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa sơ thẩm. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Bà Ôn Thị Bích H và ông Trần Sơn H chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2004 tại UBND thị trấn Đất Đỏ, huyện Đất Đỏ. Nay, bà H yêu cầu ly hôn với ông H và tranh chấp về việc nuôi con nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của ông H tại thị trấn Đ, huyện Đất Đỏ nên Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Bị đơn ông Trần Sơn H đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt ông H.

[2] Về nội dung:

Bà Ôn Thị Bích H và ông Trần Sơn H chung sống với nhau vào năm 2004 và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân này hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà H nhận thấy mâu thuẫn gia đình đã thật sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn. Còn ông H cố tình không đến Tòa án. Điều này chứng tỏ ông H không có thiện chí trong việc giải quyết mâu thuẫn gia đình và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông H.

- Về con chung: bà H và ông H có 02 con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 01- 11-2004 và Trần Sơn H, sinh ngày 12-02-2012, hiện 02 con đang được ông H nuôi dưỡng từ lúc vợ chồng ly thân đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, bà H đồng ý để 02 con cho ông H tiếp tục nuôi, bà H không cấp dưỡng nuôi con và ý kiến của các con cũng có nguyện vọng muốn được ở với ông H nghĩ nên giao các con cho ông H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc bà H không cấp dưỡng nuôi con là không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung: bà H xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

[3] Về án phí: bà H phải chịu án phí theo quy định, ông H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ôn Thị Bích H được ly hôn với ông Trần Sơn H.

2. Về nuôi con chung: Ông Trần Sơn H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Trần Gia H, sinh ngày 01-11-2004 và Trần Sơn H, sinh ngày 12-02- 2012. Bà Ôn Thị Bích H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà H được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xét đến.

4. Về án phí: bà Ôn Thị Bích H phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ-ST. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 01424 ngày 30-8-2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ. Bà H đã nộp đủ án phí. Ông H không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự vắng mặt thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc bản án được niên yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về yêu cầu ly hôn

Số hiệu:13/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đất Đỏ - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về