Bản án 13/2019/HNGĐ-ST ngày 24/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG - TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 13/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/07/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Theo quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Đặng ThịTh - Sinh năm 1992

2.Bị đơn: Anh Phạm Ngọc T- Sinh năm 1988 ]

Cùng địa chỉ: Thôn K, H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá

Tại phiên toà vắng mặt chị Th(có đơn xin xét xử vắng mặt), có mặt anh Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 09/4/2019 trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Đặng Thị Th trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Ngọc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có tổ chức cưới và được UBND H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/6/2013. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc bình thường được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T chơi bời, nghiện ma tuý, không chịu làm ăn nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Do anh T bị nghiện ma tuý, chị Th đã mua thuốc và đưa anh T đi uống thuốc cai nghiện tại Trung tâm y tế huyện Hà Trung nhưng anh T vẫn không cai được. Vào tháng 6 năm 2016 do anh T vẫn tiếp tục sử dụng ma tuý nên vợ chồng anh chị đã cãi nhau anh T đã đánh chị. Do đó chị đã bế con về nhà bố mẹ đẻ ở xã H, huyện H. Sau khi chị bế con về được khoảng 3 tháng thì anh T đã lên xin lỗi và hứa sẽ cai nghiện nên vợ chồng chị lại quay về sống chung với nhau. Tuy nhiên anh T vẫn không thay đổi dẫn đến vợ chồng liên tục cãi nhau. Đến tháng 6/2018 anh T tiếp tục đánh chị nên chị đã bế con bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Vào tháng 9/2018 anh Tphạm tội trộm cắp tài sản và bị xử phạt 09 tháng tù. Từ tháng 6/2018 đến nay vợ chồng chị sống ly thân nhau và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Th xin được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu: Phạm Thu Tr - Sinh ngày: 28/01/2015. Hiện nay cháu khỏe mạnh bình thường và đang ở với chị. Ly hôn nguyện vọng của chị là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tr và không đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

-Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai ngày 05/6/2019 và tại phiên tòa bị đơn là anh Phạm Ngọc T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Đặng Thị Th kết hôn tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/6/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường, từ tháng 6/2014 do anh nghiện ma tuý nên có xin tiền vợ dẫn đến vợ chồng cãi nhau, chị Th có đưa anh đi uống Thuốc cai nghiện nhưng không cai được. Tháng 6/2018 vợ chồng cải nhau nên chị Th đã bỏ đi làm ăn xa và từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau. Ngày 16/9/2018 anh phạm tội trộm cắp tài sản và bị xử phạt 09 tháng tù, quá trình anh chấp hành án chị Th không lên thăm nuôi anh, sau khi ra trại vào ngày 16/6/2019 anh rất muốn được gặp chị Th con để nói chuyện tình cảm vợ chồng nhưng chị Th không gặp. Nay chị Th làm đơn xin ly hôn anh xét thấy tình cảm vợ chồng đang còn nên anh xin được đoàn tụ để nuôi dạy con cái, nếu chị Th cương quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu: Phạm Thu Tr - Sinh ngày: 28/01/2015. Hiện nay cháu khỏe mạnh bình thường và đang ở với chị Th. Ly hôn nguyện vọng của anh là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tr và không đề nghị chị Th cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

-Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị Th có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.

Tại phiên Toà, Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn của chị Th, xử cho ly hôn giữa chị Th anh T, về con chung giao cháu Phạm Thu Tr - Sinh ngày: 28/01/2015 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th.

Tại phiên tòa hôm nay chị Th có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Đặng Thị Th không có mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt chị Th.

[2]Về hôn nhân: Chị Đặng Thị Th anh Phạm Ngọc T kết hôn với nhau năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Chị Th anh Tđều thừa nhận mâu Thẫn vợ chồng phát sinh do anh T bị nghiện ma tuý, chị Th đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không thay đổi, nên vợ chồng thường hay xảy ra cãi nhau. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay và không quan tâm đến nhau. Chị Thxin được ly hôn, anh Txin được đoàn tụvà nếu chị Th cương quyết xin ly hôn thì anh cũng đồng ý.

* Tại biên bản xác minh tại Công an xã Hà Ngọc cho biết:

Ngày 16/6/2019 anh Phạm Ngọc T đã chấp hành xong án phạt tù và được ra tù. Sau khi ra anh T đã về địa phương và đến Công an xã Hà Ngọc để xuất trình giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù. Hiện nay anh T vẫn đang ở địa phương và chưa có công ăn việc làm, cứ sáng đi tối về.

* Tại biên bản làm việc với thôn trưởng thôn Kim Đề, xã Hà Ngọc cho biết:

Chị Thvà anh Tlà vợ chồng, trong quá trình chung sống anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T chơi bời, nghiện ngập và anh T đã bị Toà án kết án đi tù từ 19/6/2018 đến 16/6/2019 thì ra tù. Từ khi anh T bị kết án và đi tù chị Th đã bế con bỏ nhà đi khỏi địa phương. Từ đó đến nay vợ chồng chị Th anh Tsống ly thân nhau. Trong quá trình chung sống anh T và chị Th 01 con chung. Hiện nay sau khi chấp hành án xong anh T có về trình diện tại thôn, anh đang ở chung với mẹ già, đi đâu làm gì thôn không biết nhưng cứ sáng đi tối về. Anh T mới ra tù nên chưa có nghề nghiệp ổn định.

Như vậy, quá trình chung sống vợ chồng anh T chị Th liên tục xảy ra mâu Thẫn, do anh T chơi bời và nghiện ma túy.

Xét thấy, chị Th thực sự không còn tình cảm với anh T, anh chị đã có thời gian dài sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh T cũng không đưa ra được phương án để vợ chồng đoàn tụ, chị Th không muốn gặp anh T. Đến nay chị Th vẫn tha thiết xin ly hôn, với lý do vợ chồng mâu Thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được và vợ chồng đã không còn quan hệ gì về tình cảm.

Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống, hạnh phúc gia đình, nhưng ở đây chị Th đã thực sự không còn tình cảm với anh T. Do đó nếu buộc anh chị về đoàn tụ thì cuộc sống vợ chồng cũng khó cải thiện được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị và căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Th được ly hôn anh T là phù hợp.

[2] Về con: Vợ chồng có 01 con chung là cháu: Phạm Thu Tr - Sinh ngày: 28/01/2015. Hiện nay cháu khỏe mạnh bình thường và đang ở với chị Th. Nguyện vọng của chị Th xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tr và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Nguyện vọng của anh T xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tr và không đề nghị chị Th cấp dưỡng nuôi con cùng anh.

Xét thấy nguyện vọng được nuôi con của anh, chị là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành niên. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay cháu Tr còn nhỏ, là con gái cần sự chăm sóc của mẹ và từ trước đến nay cháu vẫn ở với chị, hơn nữa hiện nay chị Th là công nhân có mức lương là 10.000.000đồng/tháng. Đối với anh Phạm Ngọc Thiện nay anh mới chấp hành án phạt tù xong, chưa có công việc ổn định nên không có Th nhập ổn định. Do vậy cần áp dụng Điều 81 82 Luật HNGĐ giao cháu Tr cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với tâm sinh lý và lợi ích của cháu.

Chị Th không yêu cầu anh Tphải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Đây là sự tự nguyện và mức Th nhập của chị cũng đảm bảo sinh hoạt. Nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th.

[3]Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Đặng Thị Th là nguyên đơn trong vụ án nên buộc chị Th phải chịu án phí dân sự hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí Tòa án.

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị Th anh Phạm Ngọc T.

2. Về nuôi con chung: Công nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu: Phạm Thu Tr - Sinh ngày 28 tháng 01 năm 2015.

2.1.Giao con chung Phạm Thu Tr cho chị Đặng Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2.Anh Phạm Ngọc T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th.

2.3.Anh Tcó quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3.Về chia tài sản: Chị Th và anh Tkhông yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.Về án phí: Chị Đặng Thị Th phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000đ theo biên lai Th tiền số 0000388 ngày 20/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung. Chị Th đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Thận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6; 7 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, đối với anh T kể từ ngày tuyên án, đối với chị Th kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/HNGĐ-ST ngày 24/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:13/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hà Trung - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 24/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về