Bản án 13/2019/DS-ST ngày 23/04/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 13/2019/DS-ST NGÀY 23/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 464/2018/TLST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2019/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị C - Sinh năm 1970 (vắng mặt).

Ông Phan Trường S (Út Chế Linh) - Sinh năm 1972 (Có mặt)

Địa chỉ: số 55, ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Sơn - Sinh năm 1974 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn ông Phan Trường S trình bày, vào năm 2014 -2015 ông Nguyễn Văn S có mua vật liệu xây dựng của ông gồm cát, xi măng, đá, gạch men để xây nhà. Hai bên thỏa thuận mua bằng tiền mặt. Sau vài lần, ông S nói xây nhà xong trả một lần. Sau khi xây xong nhà, ông S còn nợ lại ông 6.000.000đ. Ông có đòi nhiều lần và ông S có làm giấy xác nhận nợ vào ngày 02/9/2018 và hứa mỗi tháng trả 2.000.000đ, nhưng ông Sơn không thực hiện. Hiện ông S còn nợ ông 6.000.000đ.

Nay ông yêu cầu ông Nguyễn Văn S trả lại số tiền mua vật liệu xây dựng còn thiếu của ông là 6.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Bà Mai Thị C thống nhất với ý kiến của ông Phan Trường S, yêu cầu ông Nguyễn Văn S trả cho bà và ông Phan Trường S 6.000.000đ, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông Nguyễn Văn S trong quá trình giải quyết đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án của ông Phan Trường S, bà Mai Thị C và được triệu tập hợp lệ để giải quyết, nhưng ông Nguyễn Văn S vắng mặt không có lý do chính đáng, nên không thể lấy lời khai và hòa giải được.

Tại phiên tòa, ông Phan Trường S vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Bà Mai Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt

Ông Nguyễn Văn S đã được triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, về ý kiến giải quyết:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Trường S, bà Mai Thị C.

Buộc ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ trả cho ông Phan Trường S, bà Mai Thị C số tiền 6.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] - Về hình thức: Bà Mai Thị C, ông Phan Trường S khởi kiện ông Nguyễn Văn S yêu cầu trả 6.000.000đ. Ông Nguyễn Văn S có nơi cư trú ấp P, xã A, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án Nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bà Mai Thị C, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Mai Thị C là có căn cứ.

Ông Nguyễn Văn S đã được tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 để tham dự phiên tòa, nhưng ông S vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Văn S là có căn cứ.

[2] - Về nội dung: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay ông Phan Trường S, bà Mai Thị C yêu cầu ông Nguyễn Văn S trả 6.000.000đ tiền mua vật liệu xây dựng, không yêu cầu tính lãi. Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình giải quyết, Tòa án thông báo thụ lý vụ án và các chứng cứ do phía ông Phan Trường S, bà Mai Thị C cung cấp, nhưng ông Nguyễn Văn S không có ý kiến gì phản bác, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, có cơ sở xác định các bên đã xác lập hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng giữa bà C, ông Phan Trường S với ông S trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận với nhau, có lập thành văn bản, đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên, ông Nguyễn Văn S không thực hiện nghĩa vụ như hai bên đã giao kết. Do đó, việc ông Phan Trường S, bà Mai Thị C yêu cầu ông Nguyễn Văn S thực hiện nghĩa vụ trả số tiền 6.000.000đ là có cơ sở phù hợp với Điều 428, 438 Bộ luật dân sự.

Do ông Phan Trường S, bà Mai Thị C không yêu cầu tính lãi, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Ông Nguyễn Văn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 26, 35, 39, 92, 144, 147, 227 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 428, 438 Bộ luật dân sự Nghị quyết án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Trường S (Út Chế Linh), bà Mai Thị C.

Buộc ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ trả cho ông Phan Trường S (Út Chế Linh), bà Mai Thị C số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Văn S phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Bà Mai Thị C, ông Phan Trường S được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0000522 ngày 27/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/DS-ST ngày 23/04/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

Số hiệu:13/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về