Bản án 13/2019/DS-ST ngày 17/04/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 13/2019/DS-ST NGÀY 17/04/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý 22/2019/TLST-DS ngày 25 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2019/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T (Ngân hàng). Địa chỉ: lầu A, Đường B, phường C quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của của Ngân hàng: Ông Lê Đức T, Chuyên viên Quản lý nợ- Ngân hàng TMCP T Chi nhánh Long An (theo văn bản ủy quyền ngày 07/01/2019).

- Bị đơn: Ông Trương Hoàng H. Địa chỉ: ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07-01-2019 của Ngân hàng và quá trình giải quyết vụ án ông Lê Đức T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 15/10/2014 Ngân hàng TMCP T có cho ông Trương Hoàng H vay, tổng cộng vốn vay 10.000.000 đồng của hai hợp đồng tín dụng thẻ Visa, lãi suất là 2.15%/ tháng và hợp đồng tín dụng thẻ Family 2.5%/ tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân ông H có trách nhiệm thanh toán gốc và lãi vay hàng tháng theo dư nợ ban đầu, biện pháp cho vay không có tài sản đảm bảo, lãi quá hạn 150% lãi suất cho vay, theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiểm hợp đồng ngày 15/10/2014 ông H chưa trả vốn gốc của thẻ Visa là 5.556.282 đồng, lãi quá hạn 2.72.631 đồng và thẻ Family là 5.849.358 đồng, lãi quá hạn 2.756.624 đồng. Tổng cộng vốn vay và lãi quá hạn của hai hợp đồng vay là 16.234.895 đồng (bao gồm số vốn vay, tiền giao dịch, phí, tiền lãi liên quan đến việc sử dụng thẻ- điều khoản 1.9). Tính đến ngày 17/4/2019 ông H còn nợ Ngân hàng tổng cộng vốn vay và lãi quá hạn của hai hợp đồng vay là 16.234.895 đồng. Nay Ngân hàng yêu cầu ông H phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn gốc và lãi quá hạn của hai hợp đồng vay trên, tổng cộng là 16.234.895 đồng, yêu cầu ông H thanh toán một lần khi án có hiệu lực pháp luật, lãi phát sinh sau ngày 17/4/2019 tính theo thỏa thuận của hai hợp đồng vay cho đến khi ông H trả xong nợ cho Ngân hàng.

Ông Trương Hoàng H là bị đơn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên toà ông T không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ, cũng như không yêu cầu đưa thêm người tham gia tố tụng khác và không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ của vụ án và kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Ngân hàng TMCP T khởi kiện ông Trương Hoàng H về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại các điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Ông Trương Hoàng H vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào các điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông Huy.

[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy Ngân hàng yêu cầu ông H trả nợ vốn vay và lãi suất theo thỏa thuận của hai hợp đồng vay vốn là 16.234.895 đồng (bao gồm số vốn vay, tiền giao dịch, phí, tiền lãi liên quan đến việc sử dụng thẻ- điều khoản 1.9). Ông H đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, điều đó thể hiện ông H bỏ mặc và không chứng minh cho quyền lợi của mình trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc và lãi quá hạn là 16.234.895 đồng theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi án có hiệu lực pháp luật. Lãi suất phát sinh sau ngày 17/4/2019 tiếp tục được tính theo thỏa thuận của hai hợp đồng vay vốn cho đến khi ông H trả xong nợ trên cho Ngân hàng.

[3] Về án phí: Ông H phải chịu án phí theo quy định. Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T (Ngân hàng) về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với ông Trương Hoàng H.

Buộc ông H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng vốn vay và lãi quá hạn của hai hợp đồng vay tổng cộng là 16.234.895 đồng.

Lãi suất phát sinh sau ngày 17/4/2019 tiếp tục được tính theo thỏa thuận của hai hợp đồng vay vốn cho đến khi ông Htrả xong nợ trên cho Ngân hàng.

2. Về án phí:

Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng được nhận lại 360.000 đồng (ba trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001127 ngày 24 tháng 01 năm 2019 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Ông H phải nộp 811.745 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/DS-ST ngày 17/04/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:13/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về