Bản án 13/2018/HS-ST ngày 29/05/2018 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 13/2018/HS-ST NGÀY 29/05/2018 VỀ LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số10/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2018/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Chu Thị T, sinh năm 1986, tại xã A, huyện T, tỉnh Đ; Nơi cư trú xóm 11, xã N, huyện S, tỉnh B; chỗ ở trước khi bỏ trốn thôn M, xã X, huyện V, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính:Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn L (đã chết) và bà Đào Thị N; có chồng Phạm Quang T và có 02 con; con lớn sinh năm 2007; con nhỏ sinh ngày 18/7/2015; không có tiền án, tiền sự; bị bắt theo lệnh truy nã từ ngày 08/12/2017 đến ngày 11/12/2017 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo theo chỉ định của Tòa án. Ông: Phạm Đức Hiền- Luật sư Văn Phòng luật sư Đức Hiền thuộc Đoàn luật sư tỉnh Ninh Bình (Có mặt).

-Bị hại: 1.Ông Trịnh Thế H, sinh năm 1955; nơi cư trú xóm D, xã H, huyện Y, tỉnh B (Có mặt).

2. Ông Trịnh Văn C, sinh năm 1965; nơi cư trú xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh B (Có mặt).

3. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1971; nơi cư trú xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh B (Có mặt).

4. Chị Nguyễn Hồng L, sinh năm 1990; nơi cư trú phố P, thị trấn N, huyện Q, tỉnh B (Vắng mặt).

5. Chị Đinh Thị T, sinh năm 1986; nơi cư trú thôn P, xã P, huyện Y, tỉnh B (Có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1992; nơi cư trú xóm D, xã H, huyện Y, tỉnh B (Vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. AnhTrịnh Quang H, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

2. Chị Trịnh Thị Y, sinh năm 1992 (Có mặt).

3. Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1990 (Có mặt).

4. Chị Phạm Thị Hải Y, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

5. Anh Phạm Quang T, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

6. Vũ Thị N, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chu Thị T cùng chồng là anh Phạm Quang T là công nhân nhà máy xi măng The Vissai Ninh Bình thuê nhà trọ ở thôn M, xã X, huyện V, tỉnh B để ở. Hàng ngày T bán hoa quả cho các quán và người đi đường dọc đường 477 phía trước cổng nhà máy xi măng The Vissai B thuộc địa phận xã T, huyện V. Do nắm bắt được tâm lý của nhiều gia đình có nhu cầu xin việc làm cho bản thân hoặc người thân trong gia đình vào làm việc tại nhà máy xi măng The Vissai B, ngành Điện Lực, ngành Y Tế. Mặc dù bản thân chỉ là người lao động tự do không có quan hệ với những người có thẩm quyền quyết định việc tuyển dụng người vào làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp nêu trên nhưng Chu Thị T đã đưa ra thông tin là mình quen biết một số người có chức vụ quyền hạn trong ngành Y tế và ngành Điện Lực, lãnh đạo nhà máyxi măng The Vissai B, nếu ai có nhu cầu xin việc làm cho bản thân hoặc người thân trong gia đình vào làm việc tại các ngành nói trên thì đưa hồ sơ và tiền T sẽ xin việc làm cho. Nhưng sau khi nhận tiền và hồ sơ, T không xin việc cho những người có nhu cầu xin việc làm như đã hứa hẹn mà vứt bỏ hồ sơ đi, còn tiền T sử dụng chi tiêu cá nhân. Cụ thể từ tháng 02 năm 2015 đến tháng 10 năm 2016 Chu Thị T đã dùng thủ đoạn gian dối, nhiều lần chiếm đoạt tài sản của 05 người trên địa bàn tỉnh B như sau:

Lần thứ nhất:

Khoảng tháng 02/2015 thông qua một người đàn ông giới thiệu tên là T1 ở thành phố Đ nhưng thực tế không xác định được họ, tên và địa chỉ cụ thể, ông Trịnh Thế H, sinh năm 1955, nơi cư trú xóm D, xã H, huyện Y, tỉnh B đã gặp Chu Thị T. Qua trò chuyện, T biết ông H có 2 người con chưa có công ăn, việc làm là Trịnh Thị H1, sinh năm 1992 tốt nghiệp chuyên ngành kế toán trường Cao Đẳng Công nghiệp Nam Định, còn Trịnh Quang H2, sinh năm 1994 không có bằng cấp chuyên môn gì. Biết ông H đang muốn xin việc làm cho chị H1 và anh H2. T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông H bằng hình thức lừa xin việc làm, T nói dối ông H là mình có quan hệ với lãnh đạo nhà máy xi măng The Vissai B và chị Trần Thị Thanh N, phó giám đốc Điện Lực huyện M thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện Lực B, có thể xin cho chị H1 vào làm kế toán tại nhà máyxi măng The Vissai B và anh H2 vào làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện Lực B. Tin tưởng vào lời nói của Chu Thị T, gia đình ông H đã đưa hồ sơ xin việc của chị Trịnh Thị H1 và anh Trinh Quang H2, đồng thời nhiều lần giao tiền cho Chu Thị T để xin việc làm cho chị H1 và anh H2. Cụ thể như sau: Cuối tháng 02/2015 tại nhà ông H đã giao cho người đàn ông tên T1 số tiền 10.000.000 đồng để đưa cho Chu Thị T là tiền đặt cọc xin việc làm cho chị H1, sau khi nhận tiền của người đàn ông tên T đưa, T đã viết giấy biên nhận ngày 31/3/2015 với nội dung nhận của em Trịnh Thị H1 số tiền 10.000.000 đồng; ngày 07/3/2016 ông H đưa cho chị H1 230.000.000 đồng đến giao cho Chu Thị T để xin việc làm cho anh Trịnh Quang H2. Sau khi nhận tiền của chị H1 ở ven đường thuộc huyện M, T đem tiền về nhà, sau đó tự viết giấy biên nhận với nội dung, chị Trần Thị Thanh N làm việc ở Điện Lực tỉnh B nhận của Chu Thị T số tiền 230.000.000 đồng để xin cho Trịnh Quang H2 vào làm việc tại Điện Lực Ninh Bình rồi nhờ một người khách mua hoa quả không rõ tên tuổi, địa chỉ ký tên bên nhận tiền là Trần Thị Thanh N, bên giao tiền Chu Thị T trực tiếp ký tên. Sau đó T giao giấy biên nhận cho gia đình ông Trịnh Thế H. Đồng thời còn nhiều lần khác ông H đưa cho chị H1 số tiền 210.000.000 đồng để giao cho Chu Thị T, những lần này chị H1 đưa tiền cho chị T ở các quán nước ven đường, không ghi giấy biên nhận, không nhớ rõ thời gian, địa điểm và số lần giao tiền.

Sau khi nhận 450.000.000 đồng của gia đình ông Trịnh Thế H, Chu Thị T không xin việc làm cho chị H1 và anh H2 như đã hứa mà chiếm đoạt số tiền trên vào việc chi tiêu cá nhân, còn hồ sơ xin việc của chị H1 và anh H2, Tâm đã vứt đi không thu hồi được.

Lần thứ hai: Khoảng đầu tháng 5/2015 thông qua anh trai mình là ông Trịnh Thế H, ông Trịnh Văn C, sinh năm 1965, nơi cư trú xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh B đã gặp Chu Thị T. Qua trò chuyện, T biết ông C có hai con gái là Trịnh Thị T2, sinh năm 1990 tốt nghiệp hệ trung cấp trường Cao Đẳng Y tế B và Trịnh Thị Y, sinh năm 1992 tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán trường Cao đẳng công nghiệp Hà Nội. Biết ông C có nhu cầu xin việc làm cho chị T2 và chị Y nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông C bằng hình thức lừa xin việc làm. T nói dối ông C là mình có quan hệ với lãnh đạo ngành Y tế tỉnh B và lãnh đạo nhà máy xi măng The Vissai B, có thể xin cho chị T2 vào làm việc tại Viện Sản nhi B và xin cho chị Y vào làm kế toán tại nhà máy xi măng The vissai B. Tin tưởng vào lời nói của Chu Thị T, ông C đã đưa hồ sơ xin việc của chị Trịnh Thị T2 và chị Trịnh Thị Y, đồng thời từ ngày 31/5/2015 đến ngày 15/10/2016 gia đình ông Trịnh Văn C đã 16 lần giao tiền cho T, cụ thể như sau: ông Trịnh Văn C hai lần trực tiếp đưa tiền cho T là ngày 31/5/2015 tại gia đình ông Trịnh Thế H đã giao cho T số tiền 10.000.000 đồng và ngày 15/10/2016 tại nhà mình ông C đã giao cho T số tiền 53.000.000 đồng, cả hai lần đều có giấy biên nhận. Còn 14 lần khác ông C đã đưa tiền cho con gái là Trịnh Thị Y tổng số tiền là 234.626.000 đồng, để chị Y giao cho chị T, trong đó: 07 lần chị Y giao tiền cho T có viết giấy biên nhận nhưng không ghi rõ địa điểm giao nhận tiền với tổng số tiền là 119.826.000 đồng, cụ thể ngày 09/6/2015 chị Y giao cho T 10.000.000 đồng; ngày 12/6/2015 giao 17.000.000 đồng; ngày 15/6/2015 giao 25.686.000 đồng; ngày 19/6/2015 giao 15.000.000 đồng; ngày 22/6/2015 giao 10.000.000 đồng; ngày 08/7/2015 giao 2.140.000 đồng; ngày 15/8/2015 giao 40.000.000 đồng; 07 lần chị Y giao cho T với tổng số tiền 114.800.000 đồng nhưng không viết giấy biên nhận, không nhớ rõ thời gian, địa điểm giao nhận tiền.

Sau khi nhận số tiền 297.626.000 đồng của ông Trịnh Văn C, T không xin việc làm cho chị T2 và chị Y như đã hứa. Khi bị gia đình ông C hỏi nhiều về việc xin việc cho chị T2 và chị Y thì T nói dối ông C do chị T2 đã có quyết định tuyển dụng nên được hưởng 01 tháng lương là 4.000.000 đồng, chị Y đã đóng cổ phần vào Công ty nên được hưởng 04 tháng lương là 19.000.000 đồng, T đã đưa số tiền trên cho chị Y và chị T1. Số tiền 274.626.000 đồng còn lại Chu Thị T sử dụng chi tiêu cá nhân, hồ sơ xin việc của chị T2 và chị Y, T đã vứt bỏ đi. Như vậy số tiền thực tế Chu Thị T đã chiếm đoạt của ông Trịnh Văn C là 274.626.000 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng tháng 5/2015, thông qua mối quan hệ quen biết với ông Trịnh Thế H, ông Phạm Văn T3, sinh năm 1971 nơi cư trú xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh B đã gặp Chu Thị T. Qua trò chuyện, T biết ông T3 có con gái là Phạm Thị Hải Y, sinh năm 1992 tốt nghiệp chuyên ngành Kế toán trường Cao Đẳng nghề Duyên Hải, thành phố P. Biết ông T có nhu cầu xin việc làm cho chị Y nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của ông T3 bằng hình thức lừa xin việc làm. T nói dối ông T3 là mình có quan hệ với Lãnh đạo nhà máy xi măng The Vissai B, có thể xin cho chị Hải Y vào làm kế toán tại nhà máy xi măng The Vissai B. Tin tưởng vào lời nói của T ông T3 đã đưa hồ sơ xin việc của chị Phạm Thị Hải Y, đồng thời từ ngày 31/5/2015 đến ngày 22/6/2015 gia đình ông T3 đã 07 lần giao tiền cho T, cụ thể như sau: ông T3 trực tiếp giao 05 lần gồm: Ngày 31/5/2015 tại gia đình ông Trịnh Thế H giao cho T số tiền 10.000.000 đồng; ngày 01/6/2015 tại quán nước ven đường khu vực Cầu huyện, thị trấn T, huyện L giao cho T số tiền 21.350.000 đồng; ngày 06/6/2015 giao cho T 5.000.000 đồng tại quán nước ven đường không nhớ địa chỉ; ngày 18/6/2015 giao cho T 5.000.000 đồng tại quán nước ven đường không nhớ địa chỉ; ngày 22/6/2015 giao cho T 10.000.000 đồng tại quán nước ven đường không nhớ địa chỉ, các lần giao tiền nêu trên đều có giấy biên nhận. Còn 02 lần ông T3 đưa cho Trịnh Thị H1 là con gái ông Trịnh Thế H nhờ đưa cho T số tiền là 14.000.000 đồng, trong đó 01 lần 6.000.000 đồng; 01 lần 8.000.000 đồng cả hai lần này đều không nhớ thời gian, địa điểm và không có giấy biên nhận.

Sau khi nhận 70.350.000 đồng của gia đình ông Phạm Văn T3, Chu Thị T không xin việc làm cho chị Hải Y như đã hứa. Khi bị gia đình ông T3 hỏi nhiều về việc xin việc làm cho chị Y thì T đã nhờ một người phụ nữ tên là T4, không rõ tên, tuổi, địa chỉ làm 01 quyết định photocopy giả tiếp nhận chị Phạm Thị Hải Y vào làm việc tại nhà máy xi măng The Vissai B đưa cho ông T3, đồng thời đưa cho ông T3 30.000.000 đồng nói dối là tiền lương của chị Hải Y do gia đình đã đóng cổ phần vào nhà máy. Số tiền 40.350.000 đồng còn lại T đã sử dụng chi tiêu cá nhân, hồ sơ xin việc của chị Y, T đã vứt bỏ đi không thu hồi được. Như vậy số tiền thực tế Chu Thị T đã chiếm đoạt của ông Phạm Văn T3 là 40.350.000 đồng.

Lần Thứ tư: Khoảng đầu tháng 8/2015, chị Nguyễn Hồng L, sinh năm 1990 nơi cư trú phố P, huyện Q, tỉnh B đã tốt nghiệp hệ cao đẳng chuyên ngành Quản trị nhân sự, trường Đại học lao động Thương Binh và xã hội Hà Nội và tốt nghiệp hệ trung cấp trường Cao đẳng Y tế B thông qua chị Trịnh Thị H1 là người trước đây cùng làm việc tại nhà hàng Rừng và Biển ở phường P, thành phố B nên quen biết Chu Thị T. Qua trò chuyện, T biết chị L có nhu cầu xin việc làm nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền của chị L. T nói dối chị L là mình có quan hệ với lãnh đạo nhà máy xi măng The vissai B, có thể xin cho L vào làm việc tại nhà máy xi măng The Vissai B. Tin tưởng lời nói của Chu Thị T, chị Nguyễn Hồng L đã đưa hồ sơ xin việc và nhiều lần giao tiền cho T để xin việc, cụ thể như sau: Ngày 12/8/2015 tại quán nước ở khu vực ngã ba Gián thuộc xã T, huyện V, chị L đã giao cho T số tiền 15.000.000 đồng có giấy biên nhận; chị L 03 lần giao tiền cho T không có giấy biên nhận, không nhớ thời gian giao nhận tiền cụ thể, gồm: 01 lần tại quán nước ở khu vực ngã ba Gián thuộc xã T, huyện V, chị L giao cho T 8.000.000 đồng; 01 lần tại nhà trọ của T ở thôn M, xã X, huyện V, chị L giao cho T 36.000.000 đồng và 01 lần chị L đã giao cho T số tiền 20.000.000 đồng thông qua chị H1.

Sau khi nhận 79.000.000 đồng của chị Nguyễn Hồng L, Chu Thị T không xin việc làm cho chị L như đã hứa. Khi chị L nhiều lần gọi điện thoại cho T hỏi về việc xin việc cho chị L thì T đã đưa cho chị L 20.000.000 đồng, nói dối là tiền lương 04 tháng chị L được hưởng do đã đóng cổ phần vào nhà máy. Đợi lâu không thấy T xin việc cho mình, chị L đã nhiều lần yêu cầu T trả lại tiền, Chu Thị T đã trả lại cho chị L số tiền 15.000.000 đồng. Số tiền 44.000.000 đồng còn lại T sử dụng chi tiêu cá nhân, hồ sơ xin việc của chị L, T đã vứt đi không thu hồi được. Như vậy số tiền thực tế Chu Thị T đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Hồng L là 44.000.000 đồng.

Lần thứ năm: Khoảng đầu tháng 8/2015, thông qua mối quan hệ quen biết với ông Trịnh Thế H, chị Đinh Thị T5, sinh năm 1986 nơi cư trú thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh B đã gặp Chu Thị T. Qua trò chuyện, T biết chị T4 tốt nghiệp hệ trung cấp trường Cao Đẳng Y tế B. Biết chị T5 có nhu cầu xin việc làm, T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của chị T5. T nói dối là mình có quan hệ với lãnh đạo ngành Y tế B có thể xin cho T5 vào Bệnh viện sản nhi B. Tin tưởng vào lời nói của Chu Thị T, chị T5 đã đưa hồ sơ xin việc cho T, đồng thời đã 03 lần giao tổng số tiền là 150.000.000 đồng cho T để nhờ T xin cho chị T5 vào làm việc tại Bệnh viện sản nhi Ninh Bình. Cụ thể: Trong tháng 12/2015 tại gia đình ông Trịnh Thế H chị T5 giao cho T 50.000.000 đồng nhưng không viết giấy biên nhận; ngày 08/01/2016 cũng tại nhà ông Trịnh Thế H, chị T5 đã giao cho T số tiền 80.000.000 đồng cũng không có giấy biên nhận; ngày 18/01/2016 tại quán nước thuộc phường N, thành phố B chị T5 giao cho T 20.000.000 đồng nhưng yêu cầu T viết giấy biên nhận cả số tiền 50.000.000 đồng T đã nhận trong tháng 12/2015 tại nhà ông H. Ngày 08/10/2016 tại xã P, Chu Thị T viết giấy biên nhận với nội dung đã nhận của chị Đinh Thị T5 số tiền 150.000.000 đồng là số tiền T đã nhận 03 lần của chị T5 nêu trên có sự chứng kiến của ông Trịnh Thế H.

Sau khi nhận 150.000.000 đồng của chị Đinh Thị T5, Chu Thị T không xin việc làm cho chị T5 như đã hứa mà chiếm đoạt số tiền trên để chi tiêu cá nhân còn hồ sơ xin việc của chị T5, T đã vứt đi không thu hồi được.

Sau khi phát hiện bị Chu Thị T lừa đảo chiếm đoạt tiền của mình, ông Trịnh Thế H, Trịnh Văn C, Phạm Văn T3, chị Nguyễn Hồng L và chị Đinh Thị T5 đã làm đơn tố cáo Chu Thị T với cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đồng thời giao nộp cho cơ quan cảnh sát điều tra các giấy biên nhận mà Chu Thị T đã viết và ký nhận của họ và 01 quyết định tiếp nhận cán bộ công nhân viên, người lao động của Công ty TNHH xi măng The vissai B (bản photocopy) về việc tiếp nhận Phạm Thị Hải Y vào làm việc tại phòng hành chính nhân sự kể từ ngày 12/9/2015.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã ra quyết định trưng cầu giám định chữ viết trên các giấy biên nhận mà các bị hại đã nộp tại cơ quan điều tra.

Tại bản kết luận giám định số 39/KLGĐ ngày 16/8/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:

- Chữ số, chữ viết trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1( Trừ chữ viết “Trần Thị Thanh N” tại dòng 16; chữ số, chữ viết dòng 19 “20/3/2016,…phần; chữ số, chữ viết tại trang 2); A2 (trừ chữ số, chữ viết “ ngày 06/4/2015” dòng 15) từ A3 đến A7; A12; A13; chữ viết “ Chu Thị T” dưới mục “Người nhận tiền” trên các tài liệu ký hiệu A8; Chữ số, chữ viết từ dòng 1 đến dòng 12và chữ số, chữ viết “Chu Thị T” dưới mục “người nhận tiền” trên các tài liệu ký hiệu A10; chữ số, chữ viết từ dòng 12 đến dòng 15 và chữ số, chữ viết “ Chu Thị T” dưới mục “ Người nhận tiền” trên các tài liệu ký hiệu A11 so với chữ số, chữ viết của Chu Thị T trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một người viết ra.

- Chữ ký và chữ viết “Trần Thị Thanh N” tại dòng 16, dòng 17 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký, chữ viết của Vũ Thị N trên tài liệumẫu so sánh ký hiệu M5 không phải do cùng một người viết ra.

- Đối với các giấy biên nhân tiền những người bị hại giao nộp cho cơ quan điều tra và 01 Quyết định tiếp nhận CBCNV, người lao động của Công ty TNHH xi măng The Vissai B (bản photocopy) về việc tiếp nhận Phạm Thị Hải Y vào làm tại phòng hành chính nhân sự kể từ ngày 12/9/2015 được chuyển làm tài liệu trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 07/CT - VKS - P3 ngày 23/4/2018 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố Chu Thị T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Chu Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chu Thị T từ 13 đến 14 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/12/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; các Điều 357, 468, 585, 589 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Chu Thị T phải có trách nhiệm trả lại cho ông Trịnh Thế H số tiền 450.000.000 đồng; ông Trịnh Văn C 278.626.000 đồng; ông Phạm Văn T2 số tiền 40.350.000 đồng; chị Nguyễn Hồng L số tiền 44.000.000 đồng; chị Đinh Thị T4 số tiền 150.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Chu Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Riêng đối với khoản tiền 4.000.000 đồng mà bị cáo khai tại cơ quan điều tra là đã đưa cho chị T2 (con ông C) và nói đó là tiền một tháng lương chị T2 được hưởng nhưng đến nay bị cáo xác nhận là có nói như thế với chị T2 còn số tiền 4.000.000 đồng thì bị cáo không nhớ đã đưa cho chị T2 chưa. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

Người bào chữa cho bị cáo Chu Thị T trình bày: về tội danh đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thái độ khai báo thành khẩn của bị cáo vì trong tổng số tiền bị cáo bị truy tố thì có đến một nửa số tiền khi bị hại đưa cho bị cáo là không có giấy biên nhận nhưng bị cáo vẫn thừa nhận. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Các bị hại đều thừa nhận lời khai của bị cáo là đúng. Riêng ông Trịnh Văn C trình bày sau khi đưa tiền cho bị cáo để xin việc cho hai con gái ông là cháu Y và cháu T2, do lâu không thấy bị cáo xin được việc cho hai con gái ông, ông đã nhiều lần gặp bị cáo để hỏi thì bị cáo có đưa lại cho con gái ông là cháu Y số tiền 19.000.000 đồng và nói là do cháu Y đã đóng cổ phần nên được hưởng bốn tháng lương với số tiền trên. Còn cháu T2 bị cáo có nói được hưởng một tháng lương là 4.000.000 đồng nhưng bị cáo chưa đưa số tiền trên cho ông cũng như con gái ông. Các bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho họ.

Bị cáo, người bào chữa, các bị hại không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận với hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiền hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên toà bị cáo Chu Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Có căn cứ để xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 2 năm 2015 đến tháng 10 năm 2016, bị cáo nói với các bị hại không đúng sự thật là mình có mối quan hệ rộng, quen biết nhiều người có chức vụ , quyền hạn trong ngành y tế, Điện Lực B và nhà máy xi măng The Vissai B nên bị cáo có khả năng xin cho những người có nhu cầu vào làm việc tại Bệnh viện Sản nhi B, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện Lực B, nhà máy xi măng The Vissai B. Bằng thủ đoạn gian dối nêu trên bị cáo đã làm cho 5 người tin tưởng bị cáo có thể xin được việc làm cho họ hoặc người thân trong gia đình họ nên đã giao cho bị cáo tổng số tiền 962.976.000 đồng (trong đó ông Trịnh Thế H số tiền 450.000.000 đồng, ông Trịnh Văn C 278.626.000 đồng, ông Phạm Văn T3 40.350.000 đồng, chị Nguyễn Hồng L 44.000.000 đồng và chị Đinh Thị T5 số tiền 150.000.000 đồng) để nhờ bị cáo xin việc làm. Sau khi nhận hồ sơvà tiền của những người nêu trên, bị cáo không xin việc cho họ như đã hứa mà đem hồ sơ vứt bỏ, còn số tiền đã nhận bị cáo chiếm đoạt để chi tiêu cá nhân.

Điều 139 Bộ luật hình sự tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định:

1. "Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

…..

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;”.

Hành vi nêu trên của bị cáo Chu Thị T đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Chu Thị T là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình cho những người bị hại và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm nhiều gia đình ảnh hưởng đến đời sống và lâm vào tình trạng kinh tế khó khăn, đồng thời gây mất trật tự trị an ở nhiều địa phương. Căn cứ vào tính chất tội phạm cũng như hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo với xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo T được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như người bào chữa cho bị cáo đề nghị tại phiên tòa là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo vẫn phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sư.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã chiếm đoạt tiền của các bị hại, đến nay chưa trả được nên cầnbuộc bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại. Riêng đối với số tiền 4.000.000 đồng bị cáo khai không nhớ đã trả cho ông C hay chưa, tại phiên tòa ông C cũng như con gái ông đều khẳng định bị cáo có nói trả cho cháu T2 (con gái ông C) một tháng lương là 4.000.000 đồng nhưng thực tế bị cáo chưa đưa tiền. Do đó buộc bị cáo vẫn phải có trách nhiệm trả cho ông C thêm khoản tiền 4.000.000 đồng.Tổng cộng bị cáo phải trả cho các bị hại, cụ thể: Trả lại cho ông Trịnh Thế H 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng); ông Trịnh Văn C 278.626.000 đồng (Hai trăm bảy mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn); ông Phạm Văn T3 số tiền 40.350.000 đồng (Bốn mươi triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng); chị Nguyễn Hồng L số tiền 44.000.000 đồng (Bốn mươi tư triệu đồng); chị Đinh Thị T5 số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Đối với người đàn ông có tên là T ở thành phố Đ theo lời khai của ông Trịnh Thế H là người đã giới thiệu cho ông H làm quen với Chu Thị T để nhờ xin việc làm cho chị Trịnh Thị H1 và anh Trịnh Quang H2, đồng thời là người nhận tiền đặt cọc của ông H để giao cho Chu Thị T, nhưng do không xác định được họ, tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xác minh, xử lý.

Đối với ông Trịnh Thế H và chị Trịnh Thị H1 là người giới thiệu cho ông Trịnh Văn C, ông Phạm Văn T3, chị Đinh Thị T5 và chị Nguyễn Hồng L làm quen với Chu Thị T để nhờ xin việc làm cho người thân trong gia đình hoặc bản thân. Tuy nhiên ông H và chị H1 có suy nghĩ Chu Thị T có khả năng xin được việc làm cho mọi người chứ không biết T đã dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mọi người. Do vậy không có căn cứ để xử lý đối với ông H và chị H1.

Đối với người phụ nữ có tên là T4 ở tỉnh Nam Định theo lời khai của Chu Thị T là người đã làm giả quyết định tuyển dụng chị Phạm Thị Hải Y vào làm việc tại phòng hành chính nhân sự nhà máy xi măng The Vissai B nhưng không rõ tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xác minh, xử lý.

[5] Do bị tuyên có tội và phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại nên bị cáo Chu Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Chu Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Chu Thị T 13 (Mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo 08/12/2017.

2.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Chu Thị T phải trả lại cho các bị hại tổng số tiền là 962.976.000 đồng (Chín trăm sáu mươi hai triệu, chín trăm bảy mươi sáu nghìn); cụ thể:

Ông Trịnh Thế H 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng)

Ông Trịnh Văn C 278.626.000 đồng (Hai trăm bảy mươi tám triệu, sáu trăm hai mươi sáu nghìn đồng).

Ông Phạm Văn T3 số tiền 40.350.000 đồng (Bốn mươi triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng)

Chị Nguyễn Hồng L số tiền 44.000.000 đồng (Bốn mươi tư triệu đồng)

Chị Đinh Thị T5 số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi xuất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Chu Thị T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 40.889.280 đồng (Bốn mươi triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn, hai trăm tám mươi) đồng án phí dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, bị hạicó mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


62
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2018/HS-ST ngày 29/05/2018 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:13/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về