Bản án 13/2017/DS-ST ngày 22/09/2017 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 13/2017/DS-ST NGÀY 22/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 22 tháng 9 năm 2017 và ngày 06 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 46/2016/TLST-DS ngày 19 tháng 04 năm 2016 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2017/QĐXX- ST ngày 05 tháng 9 năm 2017, giữa:

- Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V. Địa chỉ: Tầng X, tòa nhà Y, số 9, đường Đ, phường Z, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G – Chủ tịch Hội đồng thành viên. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Anh Cao Văn D, theo văn bản ủy quyền ngày 07/3/2017. (có mặt)

- Bị đơn: Chị Võ Thị Mỹ H, sinh năm 1987. Địa chỉ: khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07-3-2017 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày: Ngày 23/5/2015, chị Võ Thị Mỹ H có ký hợp đồng tín dụng số 20150523-616022-0005 với Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V (sau đây tại phần NỘI DUNG VỤ ÁN và NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN sẽ được gọi tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 14.385.000 đồng (mười bốn triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn đồng) với lãi suất 2,41%/tháng tính theo dư nợ gốc trả giảm dần, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, hình thức cho vay là tín chấp, không thế chấp tài sản bảo đảm.

Theo thỏa thuận hợp đồng, chị H có trách nhiệm thanh toán gồm cả gốc và lãi là 16.863.000 đồng (trong đó tiền gốc là 14.385.000 đồng, tiền lãi là 2.478.000 đồng), trả chậm trong 12 tháng, 11 tháng đầu mỗi tháng trả 1.396.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.507.000 đồng, thanh toán vào ngày 01 hàng tháng, kỳ thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 01/7/2015. Thực hiện hợp đồng, chị H đã nhận đủ số tiền trên nhưng sau đó lại không thanh toán cho Ngân hàng bất cứ khoản tiền nào dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Nay Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc chị H phải thanh toán số tiền 16.863.000 đồng.

Đối với bị đơn Võ Thị Mỹ H, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án để chị H có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, tuy nhiên chị H không có ý kiến gì. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng yêu cầu chị H tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa vào các ngày 05/9/2017 và 22/9/2017 nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn xin rút lại yêu cầu đối với số tiền lãi là 2.478.000 đồng, chỉ yêu cầu chị H thanh toán số tiền gốc là 14.385.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng khởi kiện chị Võ Thị Mỹ H về tranh chấp hợp đồng tín dụng không có mục đích lợi nhuận, nên Tòa án xác định đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại huyện Trà Cú nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp: Nhận thấy việc chị H ký Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20150523-616022-0005 ngày 23/5/2015 với Ngân hàng để vay số tiền 14.385.000 đồng là có thật, phù hợp với chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Sau khi ký kết hợp đồng, chị H đã nhận đủ số tiền nhưng sau đó không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận là đã vi phạm hợp đồng. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

[4] Xét lãi suất của hợp đồng, tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số số 20150523-616022-0005 các bên thỏa thuận về lãi suất là 2,41%/tháng tương ứng với 29%/năm. Vấn đề này Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[4.1] Thời gian giao kết hợp đồng ngày 23/5/2015 là thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực nên lãi suất cho vay được điều chỉnh bởi Bộ luật này.

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

[4.2] Về lãi suất cơ bản, tại Điều 1 Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0 %/năm.

[4.3] Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 và Quyết định số 2868 thì lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá 13,5%/năm.

[4.4] Ngân hàng và chị H thỏa thuận lãi suất dư nợ giảm dần là 29%/năm, tương ứng với lãi suất dư nợ cố định là 17,22%/năm, do đó việc thỏa thuận này là cao hơn 3,72% so với quy định tại [4.3].

[4.5] Tuy nhiên Ngân hàng chỉ yêu cầu chị H thanh toán tiền lãi trong phạm vi 12 kỳ từ ngày 01/7/2015 đến ngày 01/6/2016, còn thời gian từ ngày 01/6/2016 đến ngày xét xử Ngân hàng không yêu cầu.

[4.6] Như vậy có thể thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa các bên có cao hơn quy định nhưng Ngân hàng không yêu cầu chị H phải thanh toán lãi từ khi vi phạm hợp đồng đến ngày xét xử (hơn 15 tháng) là có lợi cho chị H, hơn nữa tại phiên tòa đại diện Ngân hàng cũng rút lại yêu cầu đối với số tiền lãi 2.478.000 đồng. Do đó Hội đồng xét xử không điều chỉnh lại lãi suất mà các bên đã thỏa thuận.

[5] Xét thấy nguyên đơn tự nguyện rút lại yêu cầu đối với tiền lãi, do đó Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.

[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc chị H phải thanh toán cho Ngân hàng số nợ 14.385.000 đồng và tiền lãi phát sinh do chậm thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thanh toán hết nợ.

[7] Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cụ thể như sau: 14.385.000 đồng x 5% = 719.250 đồng (làm tròn thành 720.000 đồng). Nguyên đơn được trả lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 244 và 271 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 471, 474, 476 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V. Buộc chị Võ Thị Mỹ H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V số tiền 14.385.000 đồng.

- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện là số tiền lãi 2.478.000 đồng.

- Về án phí: Chị Võ Thị Mỹ H phải nộp 720.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí là 422.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008110 ngày 17/4/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Cú.

- Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lụât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.


103
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về