Bản án 13/2017/DS-ST ngày 22/09/2017 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐĂK LĂK

BẢN ÁN 13/2017/DS-ST NGÀY 22/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 38/2017/TLST-DS ngày 03/5/2017 về tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2017/QĐXXST-DS ngày 16/8/2017; Quyết định hoãn phiên tòa số: 38A/2017/QĐST-DS ngày 06/9/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Huy K, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Địa chỉ: đường N, phường A, Quận X, Tp. Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Phạm Đình V – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh Đ. (Theo Giấy ủy quyền số 37/2017/GUQ-PL&TT ngày 03/01/2017).

Địa chỉ: đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Lê Văn C – Phó phòng giao dịch B – Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ. (Theo Giấy ủy quyền ngày 05/5/2017). Có mặt.

Địa chỉ: đường D, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Ông Đặng Văn Q, sinh năm 1969; bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1971. Đều vắng mặt.

Cùng trú tại: Đội Y, thôn I, xã Đ, huyện K, Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện; tại bản tự khai và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Văn C trình bày:

Ngày 15/3/2012 ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị Bích V ký hợp đồng tín dụng số LD1206900643 với Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ để vay số tiền 170.000.000đ, lãi suất 1,9%/tháng, thời hạn vay 12 tháng, hạn trả nợ vào ngày 15/3/2013. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Khi vay có thế chấp Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 708828, thửa đất số 111, tờ bản đồ số 06, diện tích 2.430m2, địa chỉ thửa đất: Thôn I, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Lăk, do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 11/02/2011 mang tên ông Đặng Văn Q.

Quá trình vay nợ ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V đã trả cho Ngân hàng được 19.272.333đ tiền lãi. Hiện nay ông Q, bà V còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần S (Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ) số tiền 170.000.000đ gốc và tiền lãi tính đến ngày 20/9/2017 là 277.339.653đ và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/9/2017 cho đến khi trả xong nợ.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V phải trả cho Ngân hàng số tiền 447.339.653đ; trong đó tiền gốc là 170.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày 20/9/2017 là 277.339.653đ và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/9/2017 cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp ông Q, bà V không trả được nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.

- Đối với bị đơn ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Q, bà V không có mặt tại địa phương, cố tình giấu địa chỉ nên không lấy lời khai được.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Thẩm quyền thụ lý, xác định tư cách tham gia tố tụng, việc xác minh thu thập chứng cứ, trình tự thụ lý, giao thông báo thụ lý, thời hạn xét xử theo đúng quy định tại các Điều 35; 39; 48; 68; 96; 97; 102; 195; 196; 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ông Q, bà V không có mặt tại nơi cư trú và trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nên theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 thì Tòa án tiếp tục giải quyết là đúng quy định.

Về thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 thời hiệu khởi kiện là 03 năm, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu là ngày hợp đồng hết thời hạn ngày 20/3/2013; ngày 21/5/2014 Ngân hàng đã làm đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân huyện Krông Ana để yêu cầu ông Q, bà V trả nợ, Tòa án đã thụ lý, đến ngày 27/4/2015 Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (vì lý do tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn ông Q, bà V không có mặt tại địa chỉ như người khởi kiện đã cung cấp trong đơn khởi kiện), việc Tòa án đình chỉ trả lại đơn cho Ngân hàng là trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án nên thời hiệu khởi kiện được tính lại từ ngày Tòa án đình chỉ vụ án ngày 27/4/2015. Đến ngày 04/4/2017 Ngân hàng tiếp tục làm đơn khởi kiện và Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định.

Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đương sự theo các Điều 70; 71; 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 40; điểm b, khoản 2 Điều 277; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 170.000.000đ gốc và tiền lãi theo quy định.

Trong trường hợp ông Q, bà V không trả được khoản nợ trên cho Ngân hàng thì xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi công nợ.

Về chi phí giám định: Buộc ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V phải chịu tiền chi phí giám định.

Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng thương mại cổ phần S chịu chi phí thông báo.

Về án phí: Buộc ông Q, bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền 170.000.000đ gốc và tiền lãi phát sinh từ khi vay cho đến nay, đây là quan hệ “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”; bị đơn ông Q, bà V cư trú tại Thôn I, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn ông Q, bà V nhưng ông Q, bà V không có mặt tại địa phương, cố tình giấu địa chỉ, không thông báo cho nguyên đơn biết, trốn tránh việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trả nợ.

Tòa án đã làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với ông Q, bà V nhưng ông, bà vẫn không đến Tòa án làm việc, nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai, hòa giải được. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 40; điểm b, khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 5; Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Về thời hiệu khởi kiện, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu là ngày hợp đồng hết thời hạn ngày 20/3/2013; ngày 21/5/2014 Ngân hàng đã làm đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân huyện Krông Ana để yêu cầu ông Q, bà V trả nợ, Tòa án đã thụ lý, đến ngày 27/4/2015 Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (vì lý do tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn ông Q, bà V không có mặt tại địa chỉ như người khởi kiện đã cung cấp trong đơn khởi kiện), việc Tòa án đình chỉ trả lại đơn cho Ngân hàng là trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án nên thời hiệu khởi kiện được tính lại từ ngày Tòa án đình chỉ vụ án ngày 27/4/2015. Đến ngày 04/4/2017 Ngân hàng tiếp tục làm đơn khởi kiện và Tòa án thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015.

Tại phiên toà bị đơn ông Q, bà V đều vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần, do vậy Toà án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

Ngày 15/3/2012 ông Đặng Văn Q và bà Nguyễn Thị Bích V ký hợp đồng tín dụng số LD1206900643 với Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ để vay số tiền 170.000.000đ, lãi suất 1,9%/tháng, thời hạn vay 12 tháng, hạn trả nợ vào ngày 15/3/2013. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Quá trình vay nợ ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V đã trả cho Ngân hàng được 19.272.333đ tiền lãi. Hiện nay ông Q, bà V còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần S (Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ) số tiền 170.000.000đ gốc và tiền lãi tính đến ngày 20/9/2017 là 277.339.653đ và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/9/2017 cho đến khi trả xong nợ.

Do bị đơn không hợp tác làm việc, để có căn cứ cho việc giải quyết vụ án, nguyên đơn đã yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của bị đơn, Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định toàn bộ chữ ký và chữ viết của ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V tại Hợp đồng tín dụng từng lần số LD1206900643 ngày 15/3/2012 giữa bên cho vay là Ngân hàng thương mại cổ phần S – Phòng giao dịch B và bên vay là ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án so với chữ ký và chữ viết của ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 083/12/TC/BMT ngày 15/3/2012 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng thương mại cổ phần S – Phòng giao dịch B và bên thế chấp là ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V và đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/3/2012 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng thương mại cổ phần S – Phòng giao dịch B và bên thế chấp là ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V (các tài liệu so sánh đều do nguyên đơn cung cấp, có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã Quảng Điền).

Tại kết luận giám định số 38/PC54 ngày 01/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Lăk đã kết luận:

Chữ ký, chữ viết đứng tên Đặng Văn Q dưới mục “Bên vay” trong tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (Hợp đồng tín dụng từng lần số LD1206900643 ngày 15/3/2012) so với chữ kí, chữ viết đứng tên Đặng Văn Q dưới mục “Bên thế chấp” trong các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 083/12/TC/BMT ngày 15/3/2012) là do cùng một người ký và viết ra.

Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Bích V dưới mục “Bên vay” trong tài liệu cần giám định ký hiệu A1 (Hợp đồng tín dụng từng lần số LD1206900643 ngày 15/3/2012) so với chữ kí, chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Bích V dưới mục “Bên thế chấp” trong các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 083/12/TC/BMT ngày 15/3/2012; đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/3/2012) là do cùng một người ký và viết ra.

Căn cứ vào kết quả giám định, trên cơ sở xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận giữa các bên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của hợp đồng dân sự vay tài sản. Đến hạn trả nợ, ông Q, bà V không thanh toán được nợ cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V phải trả cho Ngân hàng số tiền 447.339.653đ; trong đó tiền gốc là 170.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày 20/9/2017 là 277.339.653đ và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 21/9/2017 cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc là có căn cứ cần chấp nhận theo quy định tại các Điều 463; 466 Bộ luật dân sự.

Sau khi ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V trả nợ xong thì Ngân hàng thương mại cổ phần S (Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ) có nghĩa vụ trả lại cho ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 708828, do UBND huyện K cấp ngày 11/02/2011 mang tên ông Đặng Văn Q.

Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Bảo đảm cho hợp đồng tín dụng ông Q, bà V đã thế chấp cho Ngân hàng Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 708828, thửa đất số 111, tờ bản đồ số 06, diện tích 2430m2, địa chỉ thửa đất: Thôn I, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Lăk, do UBND huyện K cấp ngày 11/02/2011 mang tên ông Đặng Văn Q. Xét hợp đồng thế chấp số 083/12/TC/BMT ngày 15/3/2012 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S (Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ) với ông Q, bà V được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Lăk, việc đăng ký thế chấp của các bên là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Đây là hợp đồng thế chấp hợp pháp. Trong trường hợp ông Q, bà V không trả được khoản nợ trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần S thì xử lý tài sản thế chấp của ông Q, bà V theo quy định của pháp luật để thu hồi công nợ.

[4] Về chi phí giám định: Căn cứ vào Điều 161 Bộ luật tố tụng Dân sự, do ông Q, bà V cố tình giấu địa chỉ, không hợp tác làm việc nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết và kết quả giám định xác định đúng chữ ký, chữ viết là của ông Q, bà V. Do đó ông Q, bà V phải chịu tiền chi phí giám định là 5.100.000đ. Ngân hàng thương mại cổ phần S (Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ) được nhận lại 5.100.000đ tiền tạm ứng chi phí giám định sau khi thu được của ông Q, bà V.

[5] Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Căn cứ Điều 180 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Ngân hàng thương mại cổ phần S chịu chi phí là 2.875.000đ. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí thông báo đã nộp tại Tòa án là 2.875.000đ.

[6] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 21.893.000đ. Nguyên đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 161; Điều 180; điểm e khoản 1 Điều 192; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; khoản 3 Điều 40; điểm b, khoản 2 Điều 277; Điều 299; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S (trả tại Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ) số tiền 447.339.653đ (Bốn trăm bốn mươi bảy triệu ba trăm ba mươi chín nghìn sáu trăm năm mươi ba đồng), trong đó số tiền gốc là 170.000.000đ và tiền lãi tính đến ngày 20/9/2017 là 277.339.653đ.

Kể từ ngày 21/9/2017 ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V còn phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Sau khi ông Q, bà V trả nợ xong thì Ngân hàng thương mại cổ phần S (Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ) có nghĩa vụ trả lại cho ông Q, bà V 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 708828 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 11/02/2011 mang tên ông Đặng Văn Q.

Trong trường hợp ông Q, bà V không trả được khoản nợ trên cho Ngân hàng thì xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi công nợ. Tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 083/12/TC/BMT ngày 15/3/2012 gồm Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 708828, thửa đất số 111, tờ bản đồ số 06, diện tích 2.430m2, địa chỉ thửa đất: Thôn I, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Lăk, do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 11/02/2011 mang tên ông Đặng Văn Q.

2. Về chi phí giám định: Buộc ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V phải chịu tiền chi phí giám định là 5.100.000đ (Năm triệu một trăm nghìn đồng). Ngân hàng thương mại cổ phần S (Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ) được nhận lại 5.100.000đ tiền tạm ứng chi phí giám định sau khi thu được của ông Q, bà V.

3. Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Ngân hàng thương mại cổ phần S chịu chi phí là 2.875.000đ. Được khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí thông báo đã nộp là 2.875.000đ.

4. Về án phí:

- Buộc ông Đặng Văn Q, bà Nguyễn Thị Bích V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 21.893.000đ (Hai mươi mốt triệu tám trăm chín mươi ba nghìn đồng).

- Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S (trả cho Phòng giao dịch B - Ngân hàng thương mại cổ phần S Chi nhánh Đ) số tiền tạm ứng án phí 10.410.000đ (Mười triệu bốn trăm mười nghìn đồng) đã nộp tại biên lai số: 0040537 ngày 27/4/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


70
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về