Bản án 131/2017/DS-ST ngày 18/09/2017 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 131/2017/DS-ST NGÀY 18/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2017 tại Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2017/TLST DS ngày 14 tháng 7 năm 2017 về "Tranh chấp hụi" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2017/QĐXX-ST ngày 14 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đoàn Quang C2, sinh năm 1959.

Địa chỉ: 299F, ấp Phú Thành, xã Phú Hưng, thành phố B, tỉnh B (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Mỹ H, sinh năm 1972.

Ông Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 1971.

Địa chỉ: 52B3, khu phố 4, phường P, thành phố B, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Ông có tham gia 02 dây hụi do bà Nguyễn Mỹ H làm chủ gồm: Hụi 2.000.000 đồng, khi ngày 05/02/2016, mỗi tháng khui 02 lần, ông đóng hụi cho bà H được số tiền 27.000.000 đồng, ông chưa hốt hụi thì cuối năm 2016 bà H bể hụi không còn tiếp tục chơi nữa, bà H làm giấy xác nhận còn nợ ông số tiền trên nhưng đến nay chưa trả cho ông. Vì vậy, ông yêu cầu bà H và ông C1 là chồng bà H liên đới trả số tiền 27.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi từ ngày 28/12/2016 theo quy định pháp luật từ ngày bà H viết biên nhận là ngày 28/12/2016 đến ngày xét xử.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Mỹ H, ông Nguyễn Ngọc C1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên không có lời khai. 

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

-Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật; bị đơn không đến tham gia giải quyết vụ án là vi phạm quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Quang C2, buộc ông Nguyễn Ngọc C1 bà Nguyễn Mỹ H trả cho ông C2 số tiền 27.000.000 đồng và lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1]Về tố tụng: Ông Đoàn Quang C2 khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Mỹ H ông Nguyễn Ngọc C1 trả số tiền hụi còn thiếu nên đây là tranh chấp theo quy định của Bộ luật dân sự.

-Bị đơn bà Nguyễn Mỹ H cư trú tại số 52B3, khu phố 4, phường P, thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

-Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Mỹ H ông Nguyễn Ngọc C1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đều không đến Tòa án để giải quyết vụ án.Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

 [2] Ông Đàon Quang C2 có tham gia các dây hụi do bà Nguyễn Mỹ H làm chủ. Ông C2 tham gia 02 dây hụi loại 2.000.000 đồng/phần, dây hụi có tất cả 50 phần, ông C2 đóng được số tiền hụi sống là 27.000.000 đồng. Cuối năm 2016 bà H bể hụi không tiếp tục chơi nữa nên làm giấy thối vốn hụi cho ông C2. Theo giấy thối vốn hụi ngày 28/12/2016 bà H còn thiếu ông C2 số tiền 27.100.000 đồng nhưng theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa ông C2 xác định chỉ yêu cầu bà H trả số tiền 27.000.000 đồng. Xét yêu cầu của ông là tự nguyện nên ghi nhận. Từ khi viết giấy nợ hụi là ngày 28/12/2006 đến nay bà H chưa trả cho ông C2 số tiền nợ hụi còn thiếu là vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bà phải có trách nhiệm trả cho ông C2 số tiền 27.000.000 đồng.

 [3]Ông Đoàn Quang C2 yêu cầu ông Nguyễn Ngọc C1 là chồng của bà H có trách nhiệm cùng bà H trả số tiền 27.000.000 đồng. Xét thấy, bà H chơi hụi nhằm mục đích phát triển kinh tế gia đình chung, ông C1 biết việc bà H chơi hụi và biết việc bà H thiếu nợ nhưng không có ý kiến phản đối, hôn nhân của ông bà vẫn tồn tại.

Do đó, buộc ông C1 phải có trách nhiệm liên đới cùng bà H trả tiền 27.000.000 đồng cho ông C2.

 [4]Về lãi suất: Ông Đoàn Quang C2 yêu cầu bà H ông C1 trả tiền vốn hụi và tính lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất pháp luật quy định. Xét ngày 28 tháng 12 năm 2016 bà H viết giấy xác nhận nợ ông C2, tuy không có thỏa thuận lãi suất nhưng từ ngày 28/12/2016 đến nay bà H chưa trả vốn cho ông C2 nên ông C2 yêu cầu bà H trả lãi chậm trả là đúng theo quy định pháp luật, cụ thể tính lãi từ ngày 28/12/2016 đến ngày xét xử là 08 tháng 10 ngày, ông C2 đồng ý mức lãi suất theo quy định pháp luật là 9%/năm nên lãi được tính như sau: 27.000.000 đồng x 0,75%/tháng x 08 tháng 10 ngày =1.687.500 đồng. Như vậy tổng số tiền bà H ông C1 trả cho ông C2 là: 27.000.000 đồng + 1.687.500 đồng = 28.687.500 đồng.

 [5] Về án phí: Do yêu cầu của ông C2 được chấp nhận toàn bộ nên bà H ông C1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền phải trả theo quy định tại Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội về án phí lệ phí Tòa án, cụ thể án phí được tính như sau : 28.687.500 đồng x 5% = 1.434.375 đồng. Hoàn trả cho ông C2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4]Quá trình giải quyết vụ án, bà H ông C1 không đến Tòa án để giải quyết vụ án và cũng không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của ông C2 nên phải chịu hậu quả pháp lý của việc vắng mặt.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường; Điều 26, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội về án phí lệ phí Tòa án;

1.Buộc bà Nguyễn Mỹ H ông Nguyễn Ngọc C1 liên đới trả cho ông Đoàn Quang C2 số tiền hụi là 28.687.500 đồng, trong đó tiền vốn hụi là 27.000.000 đồng, tiền lãi là 1.687.500 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

2.Về án phí dân sự sơ thẩm:

-Bà Nguyễn Mỹ H ông Nguyễn Ngọc C1 liên đới chịu 1.434.00 đ (Một triệu bốn trăm ba mươi bốn nghìn đồng).

-Ông Đoàn Quang C2 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 675.000 đ (Sáu trăm bảy mươi lăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011275 ngày 12 tháng 7năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B.

3.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


75
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 131/2017/DS-ST ngày 18/09/2017 về tranh chấp hụi

Số hiệu:131/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về