Bản án 130/2019/HSST ngày 19/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 130/2019/HSST NGÀY 19/07/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2019/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2019/HSST-QĐXX ngày 08 tháng 7 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T , sinh năm 1990 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; HKTT và nơi ở: số 61/4 đường N, phường Nh, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 1/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 và bà Danh Thị Tuyết M, sinh năm 1967; tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 03/11/2015 Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, và buộc T bồi thường cho bị hại số tiền: 1.200.000 đồng. Đến ngày 04/7/2017, T chấp hành xong hình phạt tù theo giấy chứng nhận số: 486/GCN của Trại giam Xuyên Mộc và đã đóng án phí 200.000 đồng HSST và 200.000 đồng án phí DSST vào ngày 19/1/2016. T chưa bồi thường số tiền 1.200.000 đồng cho bị hại.

Bị cáo bị bắt ngày 02 tháng 4 năm 2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Danh Thị Tuyết M, sinh năm 1967; cư trú tại: số 61/4 đường N, phường Nh, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 12h00' ngày 02/4/2019, tại phòng 108, Nhà nghỉ T số 944/5 đường A, phường B, TP Vũng Tàu, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an TP Vũng Tàu (Đội CSĐT TPMT CA TP Vũng Tàu) kết hợp với Công an phường 11, TP Vũng Tàu bắt quả tang Nguyễn Minh T đang tàng trữ 01 gói nylon bên trong chứa chất tinh thể không màu (thu giữ trong túi quần của Toàn, T khai là ma túy tổng hợp, MTTH, loại Hàng Đá), đồng thời cơ quan chức năng thu giữ của T 01 xe mô tô hiệu YAMAHA loại Jupiter, biển số: 60B8-269.37 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng có số imel: 8687410.

Quá trình điều tra, Nguyễn Minh T khai nhận: T sử dụng MTTH từ năm 2013. Năm 2015, T bị Tòa án nhân dân TP Vũng Tàu xử 12 tháng tù giam, về tội Trộm cắp tài sản, đến ngày 04/7/2016 T chấp hành xong án phạt tù về địa phương và tiếp tục mua ma túy sử dụng. Cứ cách hai đến ba ngày, thì T mua ma túy sử dụng một lần. Số ma túy bị thu giữ, T mua của một người phụ nữ, không rõ lai lịch, ở khu vực Xóm L, phường Nh, TP Vũng Tàu bán với giá 1.000.000 đồng để sử dụng, rồi điều khiển xe mô tô biển số: 72C1- 298.29 đến trước Nhà nghỉ M số 53/3 đường Đ, phường Nh, TP Vũng Tàu, thì bị cơ quan điều tra kiểm tra bắt quả tang như trên (BLĐT: 27 đến 33).

Lời khai của Nguyễn Minh T phù hợp với chứng cứ thu thập được và phù hợp lời khai của người chứng kiến là anh Trần Vỹ Lượng.

Tại Bản kết luận giám định số 121/GĐMT-PC09(Đ4) ngày 09 tháng 4 năm 2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu kết luận:

- Mẫu chất kết tinh không màu - trong suốt chứa trong 01 (một) gói nylon hàn kín được niêm phong trong phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường 11- CATP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và 02 hình dấu vân tay màu đỏ ghi “Ngón trỏ trái, ngón trỏ phải - Nguyễn Minh T ”, cùng các chữ ký họ tên: Trung tá Nguyễn Minh H, Đỗ Hồng Ng, Trần Vỹ L, gửi đến giám định có khối lượng 2,0706 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine.

Đối với người phụ nữ ở khu vực Xóm L, phường Nh, TP Vũng Tàu đã bán ma túy cho Nguyễn Minh T , do không rõ lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với xe môtô hiệu YAMAHA loại Jupiter, biển số 60B8- 269.37, số khung: 9508Y029148; số máy: 5B95029148 qua điều tra xác định là của ông Hoàng Văn T, sinh năm 1969, trú tại: ấp A, GC, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đứng tên chủ sở hữu. Tại biên bản xác minh lúc 15h00' ngày 02/5/2019 tại Bệnh viện Đa Khoa KV Định Quán, Đồng Nai, Công an huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai cung cấp: ông Hoàng Văn T đang bị bệnh tai biến, liệt nửa người, đầu óc không còn tỉnh táo. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1962, là vợ của ông T khai: khoảng 3 đến 4 năm trước đây, ông Tần có đứng tên chủ sở hữu chiếc xe trên. Bà D và các con đi làm xa nên không rõ ông T đã bán chiếc xe trên cho ai. Bà Danh Thị Tuyết M, là mẹ ruột của T, sinh năm: 1967, HKTT: 61/4 đường N, phường Nh, TP Vũng Tàu, khai: bà đã mua lại chiếc xe trên tại cửa hàng xe máy Tuấn Nam số 453 đường G, phường Nh, TP Vũng Tàu, do anh Phạm Tuấn N, sinh năm: 1970, HKTT: 513B đường G, phường Nh, TP Vũng Tàu làm chủ (việc mua bán có hóa đơn, nhưng không làm thủ tục sang tên đổi chủ). Đêm 01/4/2019, T tự ý lấy chiếc xe trên đi và sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi mua ma túy sử dụng, bà M không biết và không liên quan đến việc tàng trữ ma tuý của Toàn, nên cơ quan CSĐT Công an TP Vũng Tàu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 73/QĐ ngày 19/6/2019, trao trả xe trên cho bà M (BLĐT: 34 đến 53).

Bản cáo trạng số 137/CT-VKS ngày 01-7-2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy T bộ số ma túy là tang vật trong vụ án; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng có số imel: 8687410.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận T bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]  Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]  Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình . Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn T phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Lúc 12h00' ngày 02/4/2019, tại phòng 108, Nhà nghỉ T số 944/5 đường A, phường B, TP Vũng Tàu, Đội CSĐT TPMT CA TP Vũng Tàu kết hợp với Công an phường C, TP Vũng Tàu bắt quả tang Nguyễn Minh T đang tàng trữ 2,0706 gam Methamphetamine, đồng thời cơ quan điều tra thu của T: 01 xe mô tô hiệu YAMAHA loại Jupiter, biển số: 60B8- 269.37 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng có số imel: 8687410. Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3]  Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã h ội; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]  Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015;

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5]  Về xử lý vật chứng:

- 01 gói ma túy niêm phong số 121/GĐMT-PC09(Đ4) ngày 09-4-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng có số imel: 8687410 là tài sản không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo;

[6]  Về án phí : Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.  Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.

2.  Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015:

- Xử phạt Nguyễn Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 4 năm 2019.

3.  Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma túy niêm phong số 121/GĐMT-PC09(Đ4) ngày 09-4-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu vàng có số imel: 8687410 .

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 152/BB.THA ngày 02-7-2019.

4.  Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.  Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


43
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 130/2019/HSST ngày 19/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

    Số hiệu:130/2019/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:19/07/2019
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về