Bản án 130/2018/HNGĐ-ST ngày 10/09/2018 về ly hôn

 TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 130/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/09/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 10 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 527/2018/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2018/QĐST- HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2018/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q; Địa chỉ: Thôn Tr, xã Tr, huyện T, thànhphố Hải Phòng. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N; Địa chỉ:Thôn Tr, xã Tr, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 01 tháng 3 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 15 tháng 02 năm 2011 tại Ủy ban nhân dânxã Tr, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị Q và anh N chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng chung sống nhiều năm nhưng không có con chung dẫn tới thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn hai vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Chị Q và anh N đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay. Chị Q nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, chị Q yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Q khai vợ chồng không có con chung nênkhông đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Q khai vợ chồng không có tài sản chungvà không có vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.Bị đơn là anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng khác nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai anh N vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn là anh Nguyễn Văn N chưa tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu điều tra có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Q và anh nguyễn Văn N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn N. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị NguyễnThị Q và anh Nguyễn Văn N là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm, mặt khác quá trình chung sống nhiều năm nhưng anh N và chị Q không có con chung dẫn tới vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay, trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm đến nhau mặc dù đã được người thân hai bên gia đình hòa giải. Mặt khác, anh Nguyễn Văn N hiện vẫn có mặt tại địa phương và biết rõ chị Q xin ly hôn. Tòa án đã triệu tập anh N nhiều lần nhưng anh N vẫn vắng mặt thể hiện anh N không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn N.

 [2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Q khai vợ chồng không có con chung,không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

 [3] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Q khai vợ chồng không có tài sản chung không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Nguyễn Văn N không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị Q đã nộp theo biên lai số 0009244 ngày 30/7/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. 


55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 130/2018/HNGĐ-ST ngày 10/09/2018 về ly hôn

Số hiệu:130/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về