Bản án 129/2019/HNGĐ-ST ngày 29/08/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 129/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/08/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019 về việc “xin ly hôn” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, Sinh năm: 1988; Nơi ĐKHKTT: Xóm 4, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú hiện nay: số nhà 155, T, TP H, tỉnh Hải D.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, Sinh năm 1986; Nơi cư trú: Xóm 4, xã Trực T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: chị H có mặt, anh Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:

Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn ngày 03/5/2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường, đến năm 2014 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do quan điểm sống không hợp nhau, từ tháng 8/2014 đến nay vợ chồng sống ly thân. Nay chị H xác định tình cảm không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị H và anh Đ có với nhau một con chung tên Nguyễn Đại D sinh ngày 02/02/2013. Hiện cháu đang ở với mẹ, khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cháu D, yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản, và các vấn đề khác trong hôn nhân không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 25/7/2019 Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh đã làm việc với ông Nguyễn Văn H là bố đẻ của anh Đ, ông H cho biết; gia đình ông có biết việc chị H có đơn xin ly hôn anh Đ, gia đình đã nhận được các thông báo của Tòa án và anh Đ cũng đã biết nhưng do vì công việc anh Đ không về làm việc với Tòa án theo giấy triệu tập được, anh Đ có quan điểm nhất trí ly hôn, nhất trí để chị H nuôi con, về tài sản và các vấn đề khác không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Chị H vẫn giữ quan điểm xin ly hôn anh Đ. Về con chung chị H có nguyện vọng được nuôi cháu D, yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán và HĐXX, thư ký đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị H đối với anh Nguyễn Văn Đ. Về con chung, giao chị H được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đại D sinh ngày 02/02/2013. Chấp nhận yêu cầu của chị H buộc anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Tài sản và các vấn đề khác không có, không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà - Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ cư trú tại xã T, huyện T nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Anh Đ biết việc Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh thụ lý giải quyết và đã triệu tập nhưng anh Đ không chấp hành, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Toà án xác định anh Đ cố tình lẩn tránh do vậy tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn Đ có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống không hạnh phúc nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, từ tháng 8/2014 đến nay anh chị sống ly thân. Nay chị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ. HĐXX xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã thực sự tan vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, như vậy là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị H và anh Đ có một con chung tên Nguyễn Đại D sinh ngày 02/02/2013, hiện cháu đang ở với mẹ, chị H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con. HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị H, giao chị H được quyền nuôi cháu dưỡng cháu Nguyễn Đại D sinh ngày 02/02/2013.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị H yêu cầu anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Xét thấy anh Đ hiện có công việc làm có thu nhập ổn định, nhưng anh Đ không cung cấp nguồn thu nhập nên HĐXX buộc anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian tính từ tháng 9/2019 đến khi cháu D trưởng thành, lao động tự lập được.

[5] Tài sản và các vấn đề khác không có, HĐXX không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp theo quy định của pháp luật.

[7] Án phí cấp dưỡng: Anh Đ phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

1. Xử cho chị Bùi Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn Đ.

2. Về con chung: Giao giao chị H được quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đại D sinh ngày 02/02/2013.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Văn Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời gian tính từ tháng 9/2019 đến khi cháu D trưởng thành, lao động tự lập được.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội qui định về án phí, lệ phí.

Chị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số BB/2012/04963 ngày 17/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh (Chị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm).

Buộc anh Đ phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.

Chị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


89
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 129/2019/HNGĐ-ST ngày 29/08/2019 về ly hôn

Số hiệu:129/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trực Ninh - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về