Bản án 124/2019/HNGĐ-ST ngày 12/09/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 124/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/09/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 12 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 405/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị C, sinh năm 1975; Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện M, tỉnh B.

Tm trú: 11A, đường L, phường S, thành phố M, Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Văn T – Luật sư Văn phòng luật sư Bùi Văn M thuộc Đoàn luật sư thành phố H.

2. Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1972;

Đa chỉ: 11A đường L, phường S, thành phố M, Tiền Giang.

(Có mặt chị C, anh N, ông T)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 10/6/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Bùi Thị C trình bày: Chị và anh Lê Văn N có làm lễ cưới, chung sống với nhau vào năm 1995 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh B ngày 11/8/1995. Sau khi kết hôn anh chị sống tại địa chỉ 11A đường L, phường S, thành phố M, Tiền Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2005 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không phù hợp, dẫn đến cãi vả lẫn nhau, anh N hành hung chị, không quan tâm chăm sóc gia đình, chị không biết g ì về những việc làm của anh N. Chị và anh N đã ly thân từ tháng 05/2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn N.

- Về con chung: có 02 con chung là Lê Đăng T, sinh ngày 10/10/1996 (đã trưởng thành) và Lê Kiều A, sinh ngày 16/11/2005. Khi ly hôn, chị yêu cầu giao cháu A cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng 1.000.000 đồng từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi, lao động được.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Chị Bùi Thị C trình bày: Vẫn giữ nguyên lời trình bày trong đơn khởi kiện ngày 10/6/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án.

Về con chung: có 02 con chung là Lê Đăng T, sinh ngày 10/10/1996 (đã trưởng thành) và Lê Kiều A, sinh ngày 16/11/2005. Khi ly hôn, chị C yêu cầu giao cháu A cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi cháu A.

Về tài sản chung: Yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết chia tài sản chung, nhưng chị chưa rõ tài sản chung gồm những gì, chị sẽ nộp đơn yêu cầu chia tài sản chung và nếu có chứng cứ chị sẽ cung cấp sau.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh Lê Văn N trình bày: Anh và chị Bùi Thị C có làm lễ cưới và chung sống với nhau năm 1995, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh B ngày 11/8/1995. Sau khi kết hôn anh chị sống tại địa chỉ 11A đường L, phường S, thành phố M, Tiền Giang. Anh chị đã ly thân từ tháng 05/2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh đồng ý ly hôn với chị Bùi Thị C.

Về con chung: có 02 con chung là Lê Đăng T, sinh ngày 10/10/1996 (đã trưởng thành) và Lê Kiều A, sinh ngày 16/11/2005. Anh đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A, không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi cháu A.

Về tài sản chung, nợ chung: Có, nhưng nếu có yêu cầu anh sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử chuẩn bị nghị án đều đúng theo trình tự do Bộ luật tố tụng quy định. Riêng anh N không tuân thủ theo quy định của pháp luật, anh vắng mặt không có lý do trong các buổi hòa giải và không cung cấp ý kiến dù không có sự kiện bất khả kháng hay sự kiện khách quan gì.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử công nhạn thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị C và anh Lê Văn N; Về con chung: Giao cháu A cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Ng không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi cháu A; Về tài sản chung: Yêu cầu chia tài sản chung của chị C sau phiên họp giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ là vượt quá yêu cầu khởi kiện nên không giải quyết trong vụ án này, chị C có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung trong vụ án khác.

Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị C và anh Lê Văn N; Về con chung: Giao cháu A cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh N không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi cháu A; Về tài sản chung: Xem xét giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của chị C trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi thẩm tra xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày và phát biểu tranh luận của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Lê Văn N và chị Bùi Thị C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh B cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn 11/8/1995. Ngày 10/6/2019, chị C khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh N. Đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Hình thức và nội dung đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Anh N cư trú tại số 11A đường L, phường S, thành phố M, Tiền Giang, theo quy định tại Khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố M.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn N và chị Bùi Thị C được Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh B cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật, vì vậy hôn nhân của chị C và anh N là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, chị C và anh N thống nhất thuận tình ly hôn theo Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa hai anh chị.

Ghi nhận sự thỏa thuận của chị C và anh N là thống nhất giao cháu Lê Kiều A, sinh ngày 16/11/2005 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và phù hợp với nguyện vọng của cháu A. Anh N không yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi cháu A.

Về tài sản chung: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chị Bùi Thị C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là tài sản chung chị yêu cầu tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, chị C bổ sung yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử không chấp nhận việc bổ sung yêu cầu khởi kiện của chị theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Chị C có quyền khởi kiện chia tài sản sau khi ly hôn thành vụ án khác.

Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố M là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật một phần nên được chấp nhận một phần.

[3] Về án phí: Chị C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 244, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Ch và anh Lê Văn N.

Giao cháu Lê Kiều A, sinh ngày 16/11/2005 cho anh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh N không yêu cầu chị Chúc cấp dưỡng nuôi cháu A.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị C có quyền khởi kiện chia tài sản sau khi ly hôn thành vụ án khác.

- Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

2. Về án phí: Chị Bùi Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị C đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0014420 ngày 13/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố M, nên xem như đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo: Chị C, anh N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 124/2019/HNGĐ-ST ngày 12/09/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:124/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 12/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về