Bản án 122/2019/HS-ST ngày 24/10/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 122/2019/HS-ST NGÀY 24/10/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VÀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 125/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thành C; sinh năm 1973 tại Tp. Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 58/166 Âu C, Phường A, quận B, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Công T (chết) và bà Ngô Thị K (chết); vợ, con: chưa có; nhân thân: Bản án số 26/HSST ngày 06/01/2000 Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 12 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Bản án số 297/2011/HSST ngày 21/12/2011 Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền án: Bản án số 106/2015/HSST ngày 12/6/2015 Tòa án nhân dân Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 31/8/2017; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam: 04/4/2019. Có mặt.

2. Trần Như Q; sinh năm 1996 tại Tp. Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 250 Lý Chính T, Phường C, Quận D, Tp. Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 342/31 Thoại Ngọc H, phường E, quận F, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nhân viên điều hành taxi Mai Linh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn K, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Kim P, sinh năm 1973; chồng: không rõ và 01 con sinh năm 2014; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam: 04/4/2019. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Văn K, sinh năm 1972, nơi cư trú: 260/1G Phan A, phường E, quận Tân F, Tp. Hồ Chí Minh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 04/4/2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Tân Bình phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành C đang có hành vi bán ma túy cho Trần Như Q tại hẻm 197 Nguyễn Thị N, Phường G, quận B. Thu giữ trên tay trái C đang cầm 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và thu giữ trong cốp xe gắn máy biển số 59E1-115.71 của Q 01 gói nylon chứa chất tinh thể không màu.

Kết luận giám định số 843/KLGĐ-H ngày 08/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Tp. Hồ Chí Minh:

- Gói 1: Tinh thể không màu thu giữ của Nguyễn Thành C là ma túy ở thể rắn, khối lượng 24,7275 gam, loại Methamphetamine.

- Gói 2: Tinh thể không màu thu giữ của Trần Như Q là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,2386 gam, loại Methamphetamine.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thành C tại nhà số 58/166 Âu Cơ, Phường G, quận B, kết quả thu giữ: 01 bình gas, 01 quẹt gas, 01 ống xúc, 01 cân điện tử, 01 bình hút, 01 ống nỏ, 01 ống hút, 10 gói nylon là dụng cụ Công dùng để sử dụng ma túy và phân chia ma túy để bán.

Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Trần Như Q tại phòng số 8, nhà số 342/31 Thoại Ngọc H, phường E, quận F, kết quả thu giữ: 01 bình gas, 01 ống hút, 01 nỏ thủy tinh, 01 quẹt gas là dụng cụ Q dùng để sử dụng ma túy.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận mua ma túy của đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 lần tại Bùng binh Phú L, Quận I. Lần đầu C mua 2.800.000 đồng ma túy, lần hai mua 10.000.000 đồng ma túy. Sau khi mua ma túy, C mang về phân chia thành các gói nhỏ bán lại cho các con nghiện, C sử dụng số điện thoại 0938727324 để liên lạc với người mua. Do nhiều lần bán ma túy nên C không nhớ cũng như xác định được lai lịch của người mua. C xác định trước khi bị bắt đã bán ma túy cho Trần Như Q được 04 lần nhưng không nhớ thời gian và địa điểm bán ma túy. Vào khoảng 12 giờ 40 phút ngày 04/4/2019, Q gọi điện hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 150.000 đồng và giao tại số 197 Nguyễn Thị N, Phường G, quận B. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, C điều khiển xe gắn máy biển số 52P3-5490 đến điểm hẹn. C đưa cho Q 01 gói nylon chứa ma túy, còn Q đưa cho C số tiền mua ma túy 150.000 đồng thì bị công an phát hiện bắt quả tang. Trần Như Q khai bản thân nghiện ma túy và đã mua ma túy của Công 04 lần trước ngày bị bắt quả tang, không nhớ thời gian và địa điểm mua. Vào trưa ngày 04/4/2019, Q gọi điện thoại cho C hỏi mua 01 gói ma túy đá, hẹn địa điểm giao tại hẻm 197 Nguyễn Thị N, Phường G, quận B. Sau khi trả tiền mua ma túy và cất gói ma túy vào cốp xe thì bị công an phát hiện bắt quả tang như trên. Q xác nhận trước khi bị bắt quả tang đã mua ma túy của Công 04 lần, nhưng không nhớ địa điểm, thời gian và khối lượng ma túy cụ thể mỗi lần. Do đó, không có cơ sở xác định Q “phạm tội 02 lần trở lên”.

Vt chứng vụ án:

- 02 gói niêm phong còn nguyện vẹn, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải ghi số 843, là ma túy còn lại sau giám định.

- Thu giữ của Nguyễn Thành C:

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, Công dùng để liên lạc bán ma túy.

+ 01 bình gas, 01 quẹt gas, 01 ống xúc, 01 cân điện tử, 01 bình hút, 01 ống nỏ, 01 ống hút, 10 gói nylon. C dùng để phân chia ma túy.

+ Số tiền 1.000.000 đồng gồm 150.000 đồng là tiền bán ma túy cho Q có được và 850.000 đồng là tiền bán ma túy trước đó có được.

+ 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Mio biển số 52P3-5490 thu giữ của C. C khai xe gắn máy trên là của đối tượng T cho mượn làm phương tiện bán ma túy.

Qua xác minh, biển số 52P3-5490 là của xe gắn máy hiệu Attila, có số khung, số máy chủ sở hữu là ông Huỳnh Văn N. Ông N khai đã bán xe gắn máy trên từ nhiều năm trước, không nhớ bán khi nào và bán cho ai, quá trình sử dụng ông không bị mất biển số 52P3-5490.

Xe gắn máy có số khung: RLCM4P8307Y019194, số máy: P83-019194 là của xe gắn máy hiệu Mio, biển số 54X4-0875. Chủ sở hữu là bà Võ Thị Trang Mộng H. Hiện bà H đã bán nhà chuyển đi nơi khác, không xác định được địa chỉ, đăng báo tìm chủ sở hữu không có người đến làm việc.

- Thu giữ của Trần Như Q:

+ 01 điện thoại hiệu Oppo màu đen, Q dùng để liên lạc với Công mua ma túy.

+ 01 bình gas, 01 ống hút, 01 nỏ thủy tinh, 01 quẹt gas, Q dùng để sử dụng ma túy.

+ 01 xe gắn máy hiệu Yahama Nouvo, biển số 53E1-115.71, số khung: RLCN5P11-BY384180, số máy 5P11384190 thu giữ của Q. Qua xác minh, chủ sở hữu là ông Trần Văn K (cha ruột Q). Q khai mượn xe của ông Khanh đi mua ma túy, ông K không biết việc Q mượn xe của ông đi mua ma túy, ông có yêu cầu nhận lại xe.

Ti bản cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 24 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Trần Như Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Ti phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo C từ 13 đến 14 năm tù, bị cáo Q từ 02 đến 03 năm tù.

Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Thành C, Trần Như Q, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thành C đã có hành vi bán 0,2386 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine cho bị cáo Trần Như Q và cất giấu 24,7275 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích bán kiếm lời, trước đó bị cáo Công đã bán 04 lần ma túy cho bị cáo Q cũng tại trước hẻm 197 Nguyễn Thị N, Phường G, quận B nhưng không nhớ rõ thời gian và khối lượng ma túy, phù hợp với lời khai của bị cáo Q, hành vi của bị cáo Công đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến 30 gam”, là những tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi tàng trữ 0,2386 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine của bị cáo Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Q có hành vi mua ma túy của bị cáo C 04 lần nhưng không xác định được khối lượng ma túy, vì vậy không có cơ sở xử lý bị cáo Q về hành vi tàng trữ ma túy hai lần trở lên.

Hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, mà còn làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an tại địa phương. Bản thân các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được tác hại của việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là gieo rắc hiểm họa cho cộng đồng, vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì động cơ tham lam, hám lợi và muốn thỏa mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã bất chấp tất cả, chứng tỏ các bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Bị cáo C đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội rất nghiêm trọng, lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về vật chứng vụ án:

- 02 gói niêm phong còn nguyện vẹn, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải ghi số 843 (ma túy còn lại sau giám định) là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen thu giữ của bị cáo C. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 xe gắn máy hiệu Yamaha biển số 52P3-5490, số khung: RLCM4P8307Y019194, số máy: P83-019194 thu giữ của bị cáo Công. Hội đồng xét xử xét thấy biển số 52P3-5490 là vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy, đối với xe gắn máy có số khung: RLCM4P8307Y019194, số máy: P83-019194 chưa có nguồn gốc rõ ràng, cần giao Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu 01 năm, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 bình gas, 01 quẹt gas, 01 ống xúc, 01 cân điện tử, 01 bình hút, 01 ống nỏ, 01 ống hút, 10 gói nylon thu giữ của bị cáo C; 01 bình gas, 01 ống hút, 01 nỏ thủy tinh, 01 quẹt gas thu giữ của bị cáo Q. Hội đồng xét xử xét thấy đây là dụng cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy. - Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo C. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 điện thoại hiệu Oppo màu đen thu giữ của bị cáo Q. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 01 xe gắn máy hiệu Yahama Nouvo, biển số 53E1-115.71, số khung: RLCN5P110-BY384180, số máy 5P11-384190 thu giữ của bị cáo Q. Hội đồng xét xử xét thấy chủ sở hữu xe là ông Trần Văn K (cha ruột Q). Khi Q mượn xe đi công việc, ông không biết Q dùng để đi mua và chứa ma túy. Ông K có yêu cầu nhận lại xe. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông K là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành C;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Như Q;

Căn cứ khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần Như Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thành C 12 (mười hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2019.

Xử phạt bị cáo: Trần Như Q 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2019.

[2] Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số iemil: 353677/07/864364/8; 01 điện thoại hiệu Oppo màu đen, không kiểm tra được số imeil và 1.000.000 (một triệu) đồng.

Tch thu và tiêu hủy: 02 gói niêm phong còn nguyện vẹn, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình Hải ghi số 843 (tang vật ma túy còn lại sau giám định); 01 biển số 52P3-5490; 02 bình gas; 02 ống hút bằng nhựa; 02 nỏ thủy tinh; 02 quẹt ga; 01 ống xúc bằng nhựa; 01 cân điện tử và 10 gói nylon không chứa gì.

Giao Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình đăng báo tìm chủ sở hữu 01 xe gắn máy có số khung: RLCM4P8307Y019194, số máy: P83-019194 trong thời gian 01 năm, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước. Trả lại ông Trần Văn K 01 xe gắn máy hiệu Yahama Nouvo, biển số 53E1-115.71, số khung: RLCN5P110-BY384180, số máy 5P11384190.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 163/PNK ngày 20/9/2019 và 88/PNK ngày 23/4/2019 của Công an quận Tân Bình).

[3] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 122/2019/HS-ST ngày 24/10/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:122/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về