Bản án 12/2019/HNGĐST ngày 24/06/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 12/2019/HNGĐST NGÀY 24/06/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 24/6/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình thụ lý số 20/2019/TLST-HNGĐ ngày 15/3/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/5/2019 giữa:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1966

HKTT: thôn Đông Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Ông Nguyễn Đình Th, sinh năm 1960

HKTT: thôn Đông Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Th trình bày: Bà kết hôn cùng Ông Nguyễn Đình Th vào năm 1984 trước khi kết hôn đôi bên có được tìm hiểu thỏa thuận tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Thuỵ Hoà, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn Bà về làm dâu gia đình Ông Th luôn. Vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 7/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do Ông Th cầm điện thoại của bà Th và đọc được những tin nhắn của bạn bè. Sau ông Th nảy sinh tính nghi ngờ và ghen tuông nên đã đánh đuổi bà Th. Thấy vậy bà Th đã bỏ đi vài ngày, sau bà Th về nhà xin lỗi ông Th cho bà vào nhà xong ông Th không đồng ý, bà Th đã nhờ chính quyền thôn xã hoà giải nhưng ông Th vẫn không chấp nhận. Kể từ đó đến nay bà Th đã chuyển ra ngoài ở, vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ từ đó đến nay không ai quan tâm tới ai. Nay bà Th xét thấy tình cảm vợ chồng không còn không thể đoàn tụ được bà xin được ly hôn ông Th.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Đình Ph, sinh năm 1988, Nguyễn Đình N, sinh năm 1990 và cháu Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1994 đến nay cả 3 cháu đã trưởng thành bà Th không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện bà Th có yêu cầu Toà án chia tài sản chung là diện tích đất nông nghiệp thuộc định suất của bà trong hộ cùng với ông Th. Xong trong quá trình giải quyết vụ án bà Th xin rút yêu cầu về việc chia tài sản chung là diện tích đất nông nghiệp. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về công sức, công nợ: không có.

Chứng cứ mà nguyên đơn đưa ra để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình gồm: Đơn xin ly hôn, CMTND, Đơn trình bày, Đơn xin đề nghị xác nhận, trích lục kết hôn (bản sao), giấy khai sinh của con (bản sao), bà đã thực hiện việc gửi tài liệu cho bị đơn .

Về phía bị đơn là Ông Nguyễn Đình Th : Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án và nhiều lần có giấy triệu tập, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hoãn phiên họp, cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Ông Th và người thân ông Th nhận nhiều lần xong Ông Th vẫn cố tình không lên Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án. Chứng tỏ Ông Th đã tước bỏ quyền của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ kiện, xong Ông Th vẫn không đến Tòa án làm việc. Do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên toà bà Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là xin được ly hôn ông Nguyễn Nguyễn Đình Th.

Tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật: Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đầy đủ, bị đơn không chấp hành.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình. Đề nghị HĐXX: Xử cho bà Nguyễn Thị Th được ly hôn ông Nguyễn Đình Th.

Về con chung: không đặt ra giải qyết Về tài sản, công nợ, công sức: không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Thị Th kết hôn với ông Nguyễn Đình Th vào năm 1984 trước khi kết hôn đôi bên có được tìm hiểu thỏa thuận và tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Thuỵ Hoà, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 7/ 2018 thì phát sinh mâu thuẫn ,nguyên nhân là do bà Th có quan hệ với người khác, dẫn đến giữa bà Th và ông Th không có tiếng nói chung cũng như không thông cảm cho nhau dẫn đến ông Th đánh buổi bà Th, nên bà Th đã phải đi ở nhờ, ở trọ nơi khác. Nay ông Th không đồng ý ly hôn bà Th là nhằm mục đích kéo dài và gây khó khăn cho bà Th. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng bà Th ông Th đã đến mức trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Th nhằm giải phóng cho cả đôi bên là phù hợp.

Về con chung: vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Đình Ph, sinh năm 1988, cháu Nguyễn Đình N, sinh năm 1990, cháu Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1994 đến nay các cháu đã trưởng thành do vậy không đề cập tới giải quyết.

Về tài sản, công sức, công nợ: không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Bà Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 143, 144, 145, 147, 227, 228, 235, 266 và 267 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Th về việc xin ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân:

Xử: Bà Nguyễn Thị Th được ly hôn Ông Nguyễn Đình Th.

Về con chung: không đặt ra giải quyết

Về tài sản: không đặt ra giải quyết. Công nợ, công sức: không có.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận bà Nguyễn Thị Th đã nộp 1.260.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2018/0000563 ngày 11/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong. Hoàn trả bà Nguyễn Thị Th số tiền 960.000đ tiền tạm ứng án phí.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt bản án.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2019/HNGĐST ngày 24/06/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:12/2019/HNGĐST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Phong - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về